Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng
Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đến nay đã và đang thực sự đi vào đời sống xã hội. Hiện nay, ngoài loại hình Phòng Công chứng (trước đây là Phòng Công chứng nhà nước), loại hình Văn phòng công chứng đang phát triển khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương, nhất là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố lớn.
Hoạt động của các Văn phòng công chứng này
giúp giảm thiểu sự quá tải tại các Phòng Công chứng Nhà nước trước đây, góp phần
vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự,
kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật và
tăng cường pháp chế XHCN.
Tuy nhiên, sau hơn 01 năm Luật Công chứng
có hiệu lực, hoạt động của các Văn phòng Công chứng đã bộc lộ khá nhiều bất
cập. Trong đó đáng kể là sự non kém về nghiệp vụ và kinh nghiệm của không ít
Công chứng viên dẫn đến tình trạng ẩu, ký xác thực mà không đọc kỹ văn bản,
không thẩm định, xác minh tài sản, nhân thân của người ký hợp đồng giao dịch.
Kết quả là có nhiều bản bị cơ quan chức năng trả lại, không chấp thuận hoặc gây
ra tranh chấp trong giao dịch hợp đồng. Hệ thống các tổ chức hành nghề công
chứng thiếu sự liên kết thông qua mạng nội bộ để chia sẻ thông tin, không có cơ
sở dữ liệu chung để kiểm soát thực trạng các hợp đồng... Do vậy, đã có trường
hợp một căn nhà đem bán cho hai người, mang đi công chứng hợp đồng tại 2 tổ
chức hành nghề công chứng khác nhau, một tài sản đem thế chấp, bảo lãnh ở nhiều
người, nhiều nơi, người đã chết nhưng vẫn “giao dịch”, công chứng cho người có
tài sản đã bị cưỡng chế, kê biên, bán đấu giá thành, ký kết hợp đồng bán đấu
giá thành trước khi tổ chức bán đấu giá tài sản, công chứng hợp đồng có mục
đích, nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, công chứng hợp đồng
chuyển nhượng dựa trên hợp đồng uỷ quyền giả, công chứng hợp đồng giao dịch
không đúng người yêu cầu công chứng (do công chứng viên chấp nhận giấy chứng
minh nhân dân photo, do nhầm người, do chứng minh nhân dân giả...), công chứng
hợp đồng cho người không đủ năng lực hành vi dân sự... gây hậu quả pháp lý rất
nghiêm trọng. Ngoài ra, chưa kể tới chuyện thù lao tại các tổ chức hành nghề
công chứng này, mỗi nơi quy định một kiểu, mạnh ai nấy thu. Thậm chí, gần đây
còn xảy ra hiện tượng tranh chấp giữa những người góp vốn cùng Công chứng viên
để mở Văn phòng công chứng khiến dư luận xã hội rất quan tâm… Do đó, có thể nói
quản lý nhà nước về giai đoạn hiện nay phải cần được tăng cường hơn nữa, trong
đó thanh tra với vai trò là một khâu thiết yếu trong quản lý hành chính nhà
nước cũng cần phải được tăng cường. Thanh tra nhằm
mục đích đưa hoạt động đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra. Qua thanh tra
sẽ rà soát, đánh giá được thực trạng về tổ chức, hoạt động; nắm bắt được những
bất cập, mâu thuẫn, khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ cũng như phát hiện được
những vi phạm pháp luật trong hoạt động, từ đó có kết luận, kiến nghị cụ thể để
cấp có thẩm quyền kịp thời xem xét, có biện pháp chấn chỉnh về tổ chức, hoạt
động; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, giải quyết kịp thời
những vướng mắc về nghiệp vụ, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp
luật, từng bước đưa công tác vào nề nếp.
Để tăng cường công tác quản lý
nhà nước về công chứng, đòi hỏi các ngành, các cấp phải phối hợp đồng bộ những
cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp phải là lực lượng chủ công, nòng cốt và
là chủ thể chính trong việc xử phạt vi phạm hành chính. Chuyên đề này nhằm “bắt
tay, chỉ việc” cho Thanh tra viên Tư pháp thực hiện chức năng nhiệm vụ
của mình. Tác giả xin trình bày nội dung xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực công chứng để bạn đọc cùng tham khảo:
Phần I
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
CÔNG CHỨNG
Xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động công chứng nói riêng là một trong
những chế định quan trọng của pháp luật nhằm góp phần bảo đảm an toàn pháp lý
trong hoạt động.
Tuy nhiên, trên thực tế việc xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng vẫn chưa thực sự đi
vào đời sống xã hội, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là răn đe, phòng ngừa vi
phạm để từ đó nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Cho đến nay, các địa phương
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tư
pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn rất ít khi thực
hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt
động công chứng, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi vận dụng các
quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của
một bộ phận lớn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt
động còn chưa cao. Để góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn; đưa những
quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động vào thực
tiễn đời sống xã hội, chuyên đề này sẽ đưa ra, thảo luận và phân tích một số
nội dung cơ bản của việc xử phạt hành chính trong hoạt động công chứng như: cơ
sở pháp lý, đối tượng xử phạt, nguyên tắc xử phạt, hành vi vi phạm hành chính
và mức xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt cũng như cơ chế giải quyết
khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực này.
1. Cơ sở pháp lý
Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy
định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và các văn bản pháp luật
có liên quan mới chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định hướng cho việc
xử phạt vi phạm hành chính. Thời điểm đó, chưa có quy định chi tiết và hướng
dẫn cụ thể để tiến hành xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp
nói chung, trong hoạt động nói riêng. Sau khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) ra đời, thay thế Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP
ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp
lệnh được ban hành và đặc biệt Nghị định số 76/2006/NĐ-CP và Nghị định
số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tư pháp (sau đây gọi tắt là Nghị định 76 và Nghị định 60) được ban hành đã
cụ thể hoá các hành vi bị xử phạt trong lĩnh vực Tư pháp. Đây là văn bản tạo cơ
sở pháp lý chi tiết, cụ thể nhất và trực tiếp nhất hiện nay cho việc tiến hành
xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động.
Ngoài ra, còn phải kể đến một loạt
các văn bản quan trọng khác liên quan đến những quy định về xử phạt vi phạm
hành chính như Luật Thanh tra năm 2004, Nghị định số 74/2006/NĐ-CP quy định về
tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp; Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
và các văn bản có liên quan khác.
2. Đối tượng xử phạt
Theo quy định
tại khoản 1, Điều 2 Nghị định 60, đối tượng có thể bị xử phạt hành chính trong
hoạt động là rất rộng, bao gồm các cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý
vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực mà không
phải là tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng của các cá nhân, tổ
chức mà không phải là tội phạm đều là đối tượng bị xử phạt. Cần nhấn mạnh rằng
hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định. Cụ thể trong hoạt động
công chứng, chỉ có những hành vi được quy định từ Điều 21 đến hết Điều 27 của Nghị
định số 60/2009/NĐ-CP mới bị xem xét, xử phạt theo quy định của pháp luật.
Đối với cá
nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp
trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo
quy định của pháp luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta là thành
viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.
Một điểm quan
trọng, cần lưu ý nữa là những hành vi vi phạm chế độ công vụ của cán bộ, công
chức đang làm nhiệm vụ trong lĩnh vực công chứng, Thanh tra viên tư pháp và
những cán bộ, công chức có liên quan khác trong khi thi hành nhiệm vụ được giao
trong lĩnh vực công chứng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị
xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và không bị xử
phạt như các cá nhân, tổ chức đề cập ở trên.
3. Nguyên
tắc xử phạt
Nguyên
tắc 1, xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động trước hết phải tuân
theo quy định tại khoản 1, Điều 3 của Pháp lệnh: "Mọi vi phạm hành
chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm
hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do
vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật".
Đây là quy định mang tính kế thừa của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
1995, thể hiện sự nhất quán trong chính sách xử lý hành chính của Đảng và Nhà
nước ta từ trước đến nay, đó là nguyên tắc chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu
tranh, xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi vi phạm hành chính, khắc phục hậu
quả do vi phạm hành chính gây ra. Theo đó, khi phát hiện vi phạm hành chính trong
hoạt động, công việc đầu tiên mà người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện là
đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính đó.
Việc xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động đồng thời cũng phải tuân theo các
nguyên tắc quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 3 của Pháp lệnh và được cụ thể
hoá tại Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP.
Nguyên
tắc 2, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành
vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Đây là quy
định tại khoản 1, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. Theo đó, cá nhân, tổ chức
chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính được quy
định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội và Nghị định của Chính phủ. Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban
hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo
thẩm quyền không được quy định hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử
phạt.
Nguyên
tắc 3, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần
(khoản 2, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP). Nguyên tắc này đưa ra 03 trường hợp
cụ thể sau đây:
-
Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt
hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra quyết định xử
phạt lần thứ hai đối với chính hành vi đó nữa. Trong trường hợp hành vi vi phạm
vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử phạt ra lệnh
đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 8 Điều 9 của
Pháp lệnh;
-
Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết
định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác quy
định tại Điều 22 của Pháp lệnh đối với hành vi đó;
-
Trong trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sơ đề nghị
truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó đã có quyết định xử phạt vi phạm hành
chính thì người đã quyết định xử phạt phải huỷ bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa
ra quyết định xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó.
Nguyên
tắc 4, nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì
mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đó và người có thẩm quyền xử phạt
căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm, tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ mà ra quyết định xử phạt đối với từng người cùng thực hiện vi phạm
hành chính (khoản 3, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).
Nguyên
tắc 5, một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử
phạt về từng hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Pháp lệnh (khoản
4, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).
4. Hành vi
vi phạm và hình thức xử phạt
Hành vi vi
phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà
nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không phải là tội phạm, tức
là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó yếu tố có tính chất quyết
định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính. Tương tự
như hành vi phạm tội, hành vi vi phạm hành chính cũng là hành vi vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và thường là phạm vào các điều cấm
của pháp luật, song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành
chính thấp hơn tội phạm. Đồng thời như đã trình bày ở trên, một trong những
nguyên tắc cơ bản của xử lý vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính
phải được pháp luật quy định, nói cách khác hành vi nào không được pháp luật về
vi phạm hành chính quy định thì không bị coi là vi phạm hành chính.
Trong hoạt
động công chứng, các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt những hành
vi vi phạm hành chính đó đã được quy định cụ thể tại Điều 17 đến Điều 21 của
Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Theo quy định đó, hành vi vi phạm hành chính trong
hoạt động công chứng có áp dụng hình thức xử phạt tiền (thấp nhất là 500.000
đồng và cao nhất là 10.000.000 đồng), hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp
khắc phục hậu quả.
5. Thẩm
quyền xử phạt
Thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật xử
phạt vi phạm hành chính nói chung, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong
hoạt động công chứng nói riêng. Đây là vấn đề có nội dung tương đối phức tạp và
nhạy cảm, bởi nó trực tiếp liên quan đến sự phân cấp trong quản lý hành chính
nhà nước; đặc biệt trong bối cảnh hiện nay nó còn động chạm đến cái gọi là
"quyền anh, quyền tôi" trong hoạt động chấp hành, điều hành, quản lý
nhà nước, quản lý xã hội, xử lý vi phạm.
"Thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính" được hiểu là quyền của cá nhân, tổ
chức được pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định trong việc áp dụng các
hình thức xử phạt chính, bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Theo quy định của
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, thì hiện có 74 chức danh có thẩm
quyền xử phạt.
Thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng hiện nay được quy định
cụ thể từ Điều 45, 46, 48 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP bao gồm: cơ quan thanh
tra chuyên ngành Tư pháp, cơ quan công chứng, Uỷ ban nhân dân các cấp và người
đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy
quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ
nhất, chủ thể giữ một vai trò quan trọng trong việc xử phạt các vi phạm
hành chính trong hoạt động trước hết phải kể đến đó là cơ quan thanh tra chuyên
ngành Tư pháp. Vì vậy, Nghị định 60 đã dành hẳn một Điều 46 quy định về thẩm
quyền xử phạt của cơ quan này như sau:
“Điều
46. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư
pháp
1. Thanh
tra viên chuyên ngành Tư pháp đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt
cảnh cáo;
b) Phạt
tiền đến 500.000 đồng;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến
2.000.000 đồng;
d) Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.
2. Chánh
thanh tra Sở Tư pháp có quyền:
a) Phạt
cảnh cáo;
b) Phạt
tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.
3. Chánh
thanh tra Bộ Tư pháp có quyền:
a) Phạt
cảnh cáo;
b) Phạt
tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.”
Thứ
hai, một cơ quan có thẩm quyền chung cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động đó là Ủy ban nhân dân các cấp được quy định tại Điều
45, Nghị định 60. Một trong những mục đích của quy định này là để xử phạt các
trường hợp vượt quá thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành, tránh trường hợp tồn
đọng, chậm trễ trong việc giải quyết xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động.
Tuy nhiên, để
hạn chế cái gọi là "quyền anh, quyền tôi" khi việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp nói chung, trong hoạt động nói
riêng, Nghị đinh 60 đã quy định tại Điều 45 như sau:
“Điều
45. Thầm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp
1. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:
a) Phạt
cảnh cáo;
b) Phạt
tiền đến 2.000.000 đồng;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến
2.000.000 đồng;
d) Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyền:
a) Phạt
cảnh cáo;
b) Phạt
tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.
3. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền:
a) Phạt
cảnh cáo;
b) Phạt
tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.”.
6. Thủ tục
xử phạt
Thủ tục xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động phải tuân theo quy định tại
Chương VI Pháp lệnh Xử lý vi phạm hanh chính năm 2002, Chương IV Nghị định
134/2003/NĐ-CP và Chương IV Nghị định 60. Theo đó, thủ tục xử phạt được chia
làm 02 loại: thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản. Ý nghĩa của việc chia
thủ tục làm hai loại là ở chỗ: đối với việc đơn giản thì người có thẩm quyền xử
phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp
tiền tại chỗ; vụ việc được giải quyết nhanh chóng, đơn giản, tạo điều kiện
thuận lợi cho cơ quan nhà nước, công chức khi thi hành công vụ và cho cả cá
nhân, tổ chức vi phạm.
6.1 Thủ
tục đơn giản
Theo quy định
tại Điều 54 Pháp lệnh, Điều 19 Nghị định 134 và khoản 1, Điều 43 Nghị định 60
thì thủ tục đơn giản là loại thủ tục được áp dụng trong trường hợp xử phạt vi
phạm hành chính bằng hình thức xử phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng và
người có thẩm quyền xử phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay mà không phải lập
biên bản. Nội dung quyết định xử phạt theo thủ tục đơn giản, ngắn gọn hơn so
với thủ tục lập biên bản, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo những thông tin sau đây:
họ, tên, địa chỉ của người vi phạm, hành vi vi phạm, địa điểm xảy ra vi phạm,
điều, khoản, tên văn bản được áp dụng để xử phạt; ngày, tháng, năm ra quyết định,
họ, tên, chức vụ người ra quyết định. Trong trường hợp phạt tiền thì trong quyết
định phải ghi rõ mức tiền phạt. Ngưòi ra quyết định xử phạt phải giao cho nguời
bi xử phạt quyết định xử phạt.
6.2 Thủ
tục lập biên bản
Thủ tục xử
phạt phải lập biên bản trong hoạt động được quy định trực tiếp tại khoản
3, Điều 42, Nghị định 60 Quy định này dẫn chiếu tới các quy định tại Điều 55
của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Điều 20 của Nghị định 134.
Từ những quy định này có thể khái quát thủ tục lập biên bản như sau:
Một là,
khi phát hiện vi phạm hành chính trong hoạt động, người có thẩm quyền xử phạt
phải ra lệnh bằng văn bản hoặc bằng miệng, yêu cầu đình chỉ ngay hành vi vi
phạm, đồng thời lập biên bản về hành vi vi phạm. Biên bản phải có những nội
dung chính sau đây: ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, địa chỉ
người vi phạm; ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm, tang
vật, phương tiện vi phạm (nếu có). Biên bản phải được lập làm 02 bản, có chữ ký
của nguời lập biên bản, của cá nhân, tổ chức vi phạm, của người làm chứng (nếu
có); nếu cá nhân, tổ chức vi phạm từ chối ký thì người có thẩm quyền xử phạt
hoặc người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản. Trong trường hợp biên
bản có nhiều tờ thì người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm phải ký vào từng tờ
biên bản.
Hai là,
xem xét, quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh và Điều 21 nghị
định 134. Theo đó, đối với những vi phạm bình thường thì thời hạn để ra quyết
định xử phạt là 10 ngày kể từ ngày lập biên bản, đối với những vụ việc phức
tạp, thì thời hạn để ra quyết định xử phạt là 30 ngày; trong trường hợp cần xác
minh, thu thập thêm chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trươngr
trực tiếp bằng văn bản để ra hạn. Việc gia hạn thêm phải bằng văn bản và thời
gian ra hạn thêm là 30 ngày. Nội dung quyết định xử phạt phải tuân theo quy
định tại khoản 3, Điều 56 Pháp lệnh, bao gồm: ngày, tháng, năm ra quyết định;
họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi
phạm hoặc tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm, điều khoản, tên văn bản được áp
dụng, hình thức xử phạt chính và bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả.
Đối với vụ vi
phạm không thuộc thẩm quyền thì người lập biên bản chuyển biên bản đó cho người
có thẩm quyền để quyết định xử phạt.
Ba là,
thi hành quyết định xử phạt. Theo quy định tại Điều 64 của Pháp lệnh, trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức vi
phạm phải thi hành quyết định xử phạt. Quá thời hạn quy định mà cá nhân, tổ
chức không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành.
Hoãn
thi hành quyết định xử phạt: Trong truờng hợp cá nhân vi phạm chưa thể
thi hành quyết định xử phạt không phải do họ chây ỳ mà do chưa có điều kiện thi
hành như đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế; đồng thời mức bị xử phạt tiền
từ 500.000 đồng trở lên, thì có thể được tạm hoãn thi hành quyết định xử phạt.
Thời hạn tạm hoãn thi hành quyết định xử phạt không quá 03 tháng kể từ khi có
quyết định tạm hoãn. Người có thẩm quyền quyết định phạt tiền, có quyền quyết định
tạm hoãn. Để được hoãn, cá nhân, tổ chức vi phạm phải làm đơn đề nghị có xác
nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan.
7. Một số
lưu ý khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng
7.1 Tình
tiết tăng năng, giảm nhẹ
Một trong
những yêu cầu cơ bản của việc xử lý vi phạm hành chính là việc xử lý phải tương
xứng với tính chất mức độ của hành vi vi phạm và nhân thân người vi phạm. Đó
cũng chính là một trong những cơ sở cho việc ban hành các quy định về tình tiết
tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử lý vi phạm hành chính. Tình tiết tăng
nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động được
quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định số 60 và dẫn chiếu đến Điều 8, Điều 9
của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 6 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP.
- Theo
quy định tại Điều 8 Pháp lệnh, có bảy (07) tình tiết giảm nhẹ, bao gồm: (1)
Người vi phạm hành chính đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự
nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; (2) Người
vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; (3) Vi phạm trong
tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác
gây ra; (4) Vi phạm do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;
(5) Người vi phạm là phụ nữ có thai, người già yếu, người có bệnh hoặc tàn tật
làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; (6)
Vi phạm vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra; và (7) Vi phạm
do trình độ lạc hậu.
- Theo quy
định tại Điều 9 Pháp lệnh, có chín (09) tình tiết tăng năng, bao gồm: (1) Vi phạm có tổ chức; (2) Vi phạm nhiều lần trong cùng
lĩnh vực hoặc tái phạm trong cùng lĩnh vực; (3) Xúi giục, lôi kéo người chưa
thành niên vi phạm, ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần
vi phạm; (4) Vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích
thích khác; (5) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm; (6) Lợi dụng hoàn cảnh
chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội
để vi phạm; (7) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án
hình sự hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính; (8) Tiếp tục
thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm
dứt hành vi đó; và (9) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi
phạm hành chính.
Cần phải lưu
ý rằng, chỉ có chín tình tiết này mới là tình tiết tăng nặng, không ai có thể
đặt ra bất cứ một tình tiết tăng nặng nào ngoài những tình tiết này để xử phạt
nặng thêm cho công dân.
7.2 Thời hiệu
xử phạt
Theo
quy định tại khoản 1, Điều 4, Nghị định số 60, thời hiệu xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động nói riêng là một
năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện. Nếu quá thời hiệu nói trên
mà vi phạm hành chính mới bị phát hiện thì không tiến hành xử phạt nhưng vẫn bị
áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này. Trong
trường hợp quá thời hiệu xử phạt mà lỗi thuộc về người có thẩm quyền xử phạt
thì người có thẩm quyền xử phạt bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp
lệnh như sau : "Người có thẩm quyền xử lý vi
phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không
kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.".
Khoản 2, Điều
4, Nghị định số 60 cũng quy định "Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy
tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có
quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt vi phạm hành
chính nếu hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm hành chính; trong thời hạn
ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã
ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường
hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có
thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm..".
Trong thời
hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4, Nghị định số 60 này, nếu người
vi phạm thực hiện vi phạm hành chính mới trong hoạt động hoặc cố tình
trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu xử phạt như quy
định ở trên mà thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi
phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử
phạt.
Theo quy định
tại Điều 6, Nghị định số 60 vấn đề "thời hạn được coi là chưa bị xử phạt
vi phạm hành chính" đã được quy định cụ thể. Theo đó, cá nhân, tổ chức bị
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động , nếu qua một năm, kể từ ngày chấp
hành xong quyết định xử phạt (tức là kể từ ngày thực hiện xong các nghĩa vụ,
yêu cầu ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng
chế thi hành) hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà
không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
7.3 Biện pháp đảm bảo cho
hình thức xử phạt tiền
Tại khoản 3, Điều 57 của Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định người lập biên bản vi phạm
hành chính có thẩm quyền:
“Trong trường
hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thì người
có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy
phép lái xe hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan cho đến khi cá nhân, tổ
chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không
có những giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm.”.
Theo đó, khi
tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính có chế tài phạt tiền thì để đảm bảo
cho việc thi hành quyết định xử phạt hành chính thì cán bộ lập biên bản có
quyền tạm giữ 1 số giấy tờ có liên quan đến hoạt động của Công chứng viên như:
thẻ Công chứng viên (nếu có), Quyết định bổ nhiệm Công chứng viên, Giấy đăng ký
hoạt động của Văn phòng công chứng…Việc tạm giữ phải được ghi chi tiết vào biên
bản, tạm giữ giấy tờ gì, số hiệu văn bản, ngày tháng năm, trích yếu giấy tờ bị
tạm giữ, mô tả đặc điểm giấy tờ bị tạm giữ…
7.4 Khiếu
nại, tố cáo
Khiếu nại, tố
cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động được quy định tại
Chương V của nghị định 76 và dẫn chiếu đến quy định tại Điều 118 của Pháp lệnh.
Theo đó, có thể hiểu rằng chủ thể khiếu nại về xử phạt vi phạm hành chính trong
hoạt động công chứng là cá nhân, tổ chức bị xử phạt; chủ thể thực hiện quyền tố
cáo là mọi công dân. Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn
giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo. Nội dung này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể, chi tiết tại
chuyên đề "Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác công chứng".
Để phát hiện ra hành vi vi phạm hành chính và đảm bảo việc
xử phạt đúng theo quy định của pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải
nắm rõ nội dung nghiệp vụ công chứng, quy trình thanh tra chuyên ngành trên lĩnh
vực công chứng. Tác giả xin trình bày cụ thể nội dung này ở phần II dưới đây để
bạn đọc tham khảo.
Phần II
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG
GIAO DỊCH, NHỮNG VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ
GIẢI PHÁP CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TRONG THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ
Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006,
bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đến nay đã và đang thực
sự đi vào đời sống xã hội. Hiện nay, ngoài loại hình Phòng công chứng
(trước đây là Phòng công chứng nhà nước), loại hình Văn phòng công đang phát
triển khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương, nhất là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh, thành phố lớn. Hoạt động của các Văn phòng công chứng này
giúp giảm thiểu sự quá tải tại các Phòng công chứng Nhà nước trước đây, góp phần vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp
lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác, phòng
ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN.
Để đáp ứng yêu cầu của nhiều địa phương và có thêm tài liệu
tham khảo về công tác chỉ đạo nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Tư pháp, trong
phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin trao đổi cùng các bạn một số nội dung cơ bản
về thanh tra nghiệp vụ công chứng, bao gồm thanh tra các trình tự, thủ tục công
chứng các hợp đồng giao dịch, các vấn đề bất cập của pháp luật, cách xử lý
thông thường của Công chứng viên và các hành vi sai phạm thường xảy trong việc
không chấp hành đầy đủ, chặt chẽ các quy trình, thủ tục công chứng các hợp đồng
giao dịch. Để tiện việc tra cứu, tác giả xin trình bày theo từng mục, mỗi mục
là một loại hợp đồng giao dịch và được trình bày chi tiết theo 10 mục sau đây:
Mục
1
THỦ
TỤC CHUNG CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH
1. Thủ tục
(Theo Điều 35, Điều 36 Luật Công chứng)
1.1. Hồ
sơ công chứng
Người yêu
cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm các giấy tờ sau đây:
a) Phiếu yêu
cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu;
b) Dự thảo
hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao
giấy tờ tuỳ thân;
d) Bản sao
giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được
pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở
hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản
đó;
đ) Bản sao
giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
1.2.
Lưu ý khi thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch
1.2.1.
Bản sao quy định trong Hồ sơ công chứng là bản chụp, bản in, bản đánh
máy hoặc bản đánh máy vi tính nhưng phải có nội dung đầy đủ, chính xác như bản
chính và không phải có chứng thực. Khi nộp bản sao thì người yêu cầu công chứng
phải xuất trình bản chính để đối chiếu.
Trong thực
tế, đã có trường hợp do cả nể, quen biết nên Công chứng viên đã chấp nhận chứng
minh thư photo của người yêu cầu công chứng, người yêu cầu công chứng sử dụng
chứng minh thư giả hoặc người yêu cầu công chứng ký tên không đúng chữ ký của
mình sau đó giá đất tăng đã quay lại tố cáo có người giả chữ ký của mình…Từ
những thực tế này, tác giả kiến nghị cần phải sửa đổi chế định điểm chỉ tại
Luật Công chứng. Theo tác giả, đã ký hợp đồng công chứng là bắt buộc phải điểm
chỉ để đảm bảo tính an toàn pháp lý vì trong thực tế đã có người đóng giả người
khác để đến ký hợp đồng công chứng khi công chứng viên yêu cầu điểm chỉ thì đã
chửi bới, phản đối quyết liệt và bỏ chạy. Nếu người nào đóng giả người ký hợp đồng
giao dịch thì cũng dễ truy nguyên khi đã điểm chỉ.
1.2.2.
Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công
chứng. Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định của
pháp luật thì thụ lý, ghi vào sổ công chứng.
Trong thực
tế, nhiều trường hợp do khách quen nên công chứng viên đã “cho nợ” chứng minh
tư, hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, biên bản
họp các thành viên công ty…Trong trường hợp này cần phải kiên quyết khi đã nộp
đủ các thủ tục, căn cứ pháp lý để chứng minh nhân thân, tài sản thì công chứng
viên mới được công chứng hợp đồng giao dịch.
1.2.3.
Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề
chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có
sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có sự
nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên
đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu
công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường
hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng.
1.2.4.
Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc công chứng
viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe. Trường hợp người yêu cầu công chứng
đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang
của hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên ghi lời chứng; ký vào từng trang của
hợp đồng, giao dịch.
Trong thực tế
có nhiều trường hợp không ký vào từng trang của hợp đồng giao dịch (đặc biệt là
người yêu cầu công chứng là ngân hàng), theo tác giả cần chấm dứt ngay hiện
tượng này và các cơ quan thanh tra, kiểm tra phải kiên quyết xử lý để phòng
ngừa, ngăn chặn trường hợp này xảy ra một cách phổ biến.
1.2.5. Đối với trường hợp công chứng hợp đồng,
giao dịch đã được soạn thảo sẵn, cần chú ý: Công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo
hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối
tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với thực tế thì công
chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa. Trường hợp
người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối
công chứng.
Trong thực tế có nhiều công chứng viên do được “bổ
nhiệm ngang” không qua đào tạo nghiệp vụ công chứng và không nắm chuyên sâu về
các quy định của Bộ luật dân sự và các luật có liên quan (như Luật đất đai,
Luật Xây dựng, Luật Ngân hàng…) nên nội dung hợp đồng còn có sai phạm và “ngô
nghê” đến mức phải xử phạt. Ví dụ: ký hợp đồng chuyển nhượng sai thẩm
quyền, ký hợp đồng cho một người đại diện cho một số người lại ký với một pháp nhân
mà chính mình làm đại diện, ký văn bản từ chối di sản sau khi người có di sản
đã chết 06 năm, ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho người thuê đất 50
năm nhưng chưa mới nộp thuế sử dụng đất 05 năm…
1.2.6. Đối
với trường hợp công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo
đề nghị của người yêu cầu công chứng, cần lưu ý:
- Khi nộp hồ
sơ công chứng, người yêu cầu công chứng phải nêu nội dung, ý định giao kết hợp
đồng, giao dịch.
- Trường hợp
nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch là xác thực, không vi phạm pháp
luật, không trái đạo đức xã hội thì công chứng viên soạn thảo hợp đồng, giao
dịch.
- Trong thực
tế, khi ký hợp đồng thế chấp tài sản để vay tiền, có nhiều trường hợp người thế
chấp tài sản để vay tiền do vì quá cần tiền và nhận thức hậu quả pháp lý
của hợp đồng uỷ quyền chưa được rõ nên đã cam kết uỷ quyền cho bên được uỷ
quyền có quyền thế chấp, cho thuê, cho tặng, chuyển nhượng…định đoạt tài
sản miễn là có tiền vay. Trong trường hợp này, Công chứng viên buộc phải giải
thích rõ quyền và nghĩa vụ, hậu quả pháp lý của việc uỷ quyền để người uỷ quyền
được rõ. Nếu bên uỷ quyền đã hiểu rõ nội dung mà vẫn kiên quyết đồng ý nội dung
uỷ quyền nêu trên thì công chứng viên vẫn phải ký công chứng hợp đồng cho giao
dịch này vì các bên đã hiểu rõ nội dung, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn
toàn tự nguyện giao kết.
2. Thẩm
quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản (Theo Điều 37 Luật Công
chứng)
2.1.
Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các
hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 dưới đây.
2.2.
Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng
di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản.
Trong thực tế
có 02 quan điểm sau:
Quan
điểm 1:
Vì tại khoản
1, Điều 37 của Luật Công chứng đã quy định: “Công chứng viên của tổ chức
hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất
động sản…” thì việc công chứng viên ký hợp đồng uỷ quyền cho một người đứng
ra giao dịch về bất động sản đó là hoàn toàn khác nhau. Một bên là giao dịch
trực tiếp với bất động sản, một bên là gián tiếp giao dịch với bất động sản nên
hợp đồng uỷ quyền không phụ thuộc vào địa hạt.
Quan
điểm 2:
Bất kể giao
dịch gián tiếp hay trực tiếp với bất động sản đều phải tuân thủ theo địa hạt.
Tức là công chứng viên không được ký hợp đồng uỷ quyền cho một người khác có
quyền giao dịch với bất động sản ở ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở.
Tác giả chọn
quan điểm thứ nhất vì khi người được uỷ quyền ký hợp đồng, giao dịch trực
tiếp về bất động sản ở nơi nào thì vẫn phải do tổ chức hành nghề công chứng ở
nơi đó công chứng.
3. Thời
hạn công chứng (Theo Điều 38 Luật Công chứng)
3.1.
Thời hạn công chứng được xác định kể từ ngày tổ chức hành nghề công chứng nhận
đủ hồ sơ yêu cầu công chứng đến ngày trả kết quả công chứng. Thời gian xác
minh, giám định không tính vào thời hạn công chứng.
3.2.
Thời hạn công chứng không quá hai ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch
yêu cầu công chứng phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng
không quá mười ngày làm việc.
4. Địa
điểm công chứng (Theo Điều 39 Luật Công chứng)
4.1.
Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công
chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 5.2 dưới đây.
4.2.
Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công
chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi
lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý
do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
Trong thực
tế, việc công chứng ngoài trụ sở là phổ biến (tác giả có rất nhiều danh sách
các hợp đồng công chứng ngoài trụ sở) , có tổ chức hành nghề công chứng còn
quảng cáo phục vụ khách hàng mọi lúc, mọi nơi và có cả hoa hồng, chiết khấu cho
khách hàng !!!
Điều tác giả
đáng lo ngại nhất là vấn đề an toàn pháp lý khi công chứng ngoài trụ sở vì các
tổ chức hành nghề công chứng thường cử các nhân viên đi lấy chữ ký người yêu
cầu công chứng do đó sẽ khó bảo đảm toàn vẹn 03 yêu cầu:
Yêu cầu
thứ nhất: xác định chính xác nhân thân của gười yêu cầu công chứng, đối
chiếu chứng minh thư, nhận dạng chính xác giữa người thật và ảnh trong chứng minh
thư, lăn tay điểm chỉ, so sánh mẫu vân tay thực tế và mẫu vân tay trong
chứng minh thư để xác định người thật, việc thật khi yêu cầu công chứng…
Yêu cầu
thứ hai: xác định chính xác năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu
công chứng, tính minh mẫn, tính tự nguyện khi giao dịch, nhận thức pháp luật, hậu
quả pháp lý khi ký hợp đồng…
Yêu cầu
thứ ba: xác định tính chính xác của giấy tờ gốc chứng minh quyền sử
dụng, quyền sở hữu tài sản mang ra giao dịch, tài sản có tranh chấp hay không ?
còn nguyên vẹn không ? giấy tờ có hợp pháp, hợp lệ không ?
Theo tác giả,
để đảm bảo cho 03 yêu cầu trên và đảm bảo an toàn pháp lý khi công chứng hợp
đồng giao dịch ngoài trụ sở thì bắt buộc công chứng viên phải trực tiếp đi lấy
chữ ký người yêu cầu công chứng và trực tiếp thẩm định các giấy tờ có liên quan.
5. Chữ
viết trong văn bản công chứng (Theo Điều 40 Luật Công chứng)
5.1.
Chữ viết trong văn bản công chứng phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt
hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng, không được tẩy
xoá, không được để trống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5.2.
Thời điểm công chứng phải được ghi cả ngày, tháng, năm; có thể ghi giờ, phút
nếu người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc công chứng viên thấy cần thiết. Các
con số phải được ghi cả bằng số và chữ, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Trong thực
tế, có nhiều công chứng viên đã ký hợp đồng bán đấu giá tài sản vào thời điẻm
trước khi tổ chức bán đấu giá, ngay khi tổ chức bán đấu giá, hoặc trong khi tổ
chức bán đấu giá do một số nguyên nhân sau:
- Công chứng
viên không chứng kiến cuộc bán đấu giá, sau khi bán đấu giá xong thì nhân viên
của tổ chức bán đấu giá đưa hợp đồng bán đấu giá đến và công chứng viên đã điền
giờ công chứng vào hợp đồng theo giờ của giấy mời tham gia chứng kiến cuộc bán
đấu giá (nguyên nhân này là chủ yếu).
- Công chứng
viên có tham gia chứng kiến cuộc bán đấu giá nhưng không tham gia từ đầu đến
cuối phiên bán đấu giá nên đã ghi giờ công chứng không chính xác (giờ công
chứng viên ký hợp đồng bán đấu giá phải bằng hoặc sau giờ kết thúc phiên đấu
giá).
Hậu quả của
hành vi sai phạm trên đã gây rất nhiều khó khăn, phức tạp cho các ngành, các
cấp khi có khiếu kiện về bán đấu giá tài sản. Do đó, theo tác giả, để tránh hậu
quả phức tạp thì công chứng viên chỉ nên ghi ngày, tháng, năm ký hợp đồng và
không cần phải ghi rõ giờ công chứng trong lời chứng (Luật Công chứng cho phép).
6. Ký,
điểm chỉ trong văn bản công chứng (Theo Điều 41 Luật Công chứng)
6.1.
Người yêu cầu công chứng, người làm chứng phải ký vào văn bản công chứng trước
mặt công chứng viên.
Trong trường
hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp
khác đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể
ký trước vào hợp đồng; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp
đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng.
6.2.
Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong văn bản công chứng trong các trường
hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng không ký được do khuyết tật hoặc
không biết ký. Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng sử dụng
ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng
ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng hai ngón trỏ đó thì điểm chỉ
bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay
nào.
6.3.
Việc điểm chỉ cũng có thể thực hiện đồng thời với việc ký trong các trường hợp
sau đây:
a) Công chứng
di chúc;
b) Theo đề
nghị của người yêu cầu công chứng;
c) Công chứng
viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
6.4.
Thực tiễn cho thấy việc điểm chỉ là hết sức cần thiết và làm cho hợp đồng giao
dịch tăng thêm độ tin cậy và an toàn pháp lý. Có trường hợp người đến yêu cầu
công chứng không đúng là người có tên trong hợp đồng giao dịch nên khi công
chứng viên yêu cầu điểm chỉ thì người đó phản ứng rất quyết liệt và bỏ chạy.
Nếu có điểm chỉ thì việc truy nguyên người đến giao dịch cũng rất dễ dàng cho
cơ quan điều tra (vì trong thực tế đã có trường hợp là người giao dịch thật lại
“ký giả” vào Hợp đồng và sau đó đã từ chối không nhận chữ ký của mình để “cò
quay” vì giá nhà đất tăng lên như tên lửa… do đó, theo tác giả cần phải đưa chế
định bắt buộc điểm chỉ vào sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng.
7. Việc
ghi trang, tờ trong văn bản công chứng (Theo Điều 42 Luật Công chứng)
Văn bản công
chứng có từ hai trang trở lên thì từng trang phải được đánh số thứ tự. Văn bản
công chứng có từ hai tờ trở lên phải được đóng dấu giáp lai giữa các tờ.
8. Sửa lỗi
kỹ thuật trong văn bản công chứng (Theo Điều 43 Luật Công chứng)
8.1.
Lỗi kỹ thuật là lỗi do sai sót trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn trong văn
bản công chứng mà việc sửa lỗi đó không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của
người tham gia hợp đồng, giao dịch.
8.2.
Người thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng phải là công chứng
viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường
hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt
động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang
lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật.
8.3.
Khi sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng, công chứng viên có trách nhiệm đối
chiếu từng lỗi cần sửa với các giấy tờ trong hồ sơ công chứng, gạch chân chỗ
cần sửa, sau đó ghi chữ, dấu hoặc con số đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký
của mình và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Công chứng viên có trách
nhiệm thông báo việc sửa lỗi kỹ thuật đó cho người tham gia hợp đồng, giao dịch.
Trong thực tế
việc sửa lỗi kỹ thuật còn rất tuỳ tiện, không tuân thủ theo Luật công chứng. Cụ
thể, có trường hợp công chứng viên bôi bút xoá và viết đè nội dung khác lên;
viết thêm nội dung vào; gạch chéo bỏ hẳn một đoạn; viết chèn dòng; dán giấy đè
lên để viết; gạch giữa chữ; viết chèn số, chèn chữ. Đặc biệt, có trường hợp
công chứng viên còn “sáng tạo” ra “hình thức sửa lỗi kỹ thuật mới” bằng cách
lập hẳn trang đính chính riêng và công chứng viên ký đơn phương xác nhận. Rất
nhiều trường hợp công chứng viên đã lạm dụng sửa lỗi kỹ thuật để sửa chữa những
nội dung quan trọng của hợp đồng.
9. Công
chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch (Theo Điều 44 Luật
Công chứng)
9.1.
Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được
thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã
tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được công chứng.
9.2.
Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch
phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công
chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng
chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề
công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ
bỏ hợp đồng, giao dịch.
9.3.
Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện
theo thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương IV của Luật
Công chứng.
Trong thực
tế, rất nhiều trường hợp phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch
nhưng công chứng viên đã lạm dụng sửa lỗi kỹ thuật hoặc lập trang đính chính để
tự sửa đổi, bổ sung hợp đồng và không có ký xác nhận của người yêu cầu công
chứng.
10. Người
được đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (Theo Điều 45 Luật
Công chứng)
Công chứng
viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên
quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản
công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật.
11. Công
chứng hợp đồng thế chấp bất động sản (Theo Điều 47 Luật Công chứng)
11.1.
Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện công chứng hợp đồng
thế chấp bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
có bất động sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
11.2.
Nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau
cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc công chứng hợp
đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở
đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản
thực hiện.
11.3.
Một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng
thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một
nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp
theo phải do công chứng viên đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu thực hiện
công chứng. Trường hợp công chứng viên công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu
chuyển sang tổ chức hành nghề công chứng khác, không còn hành nghề công chứng
hoặc không thể thực hiện việc công chứng thì công chứng viên thuộc tổ chức hành
nghề công chứng đang lưu trữ hợp đồng thế chấp công chứng hợp đồng đó.
12. Một số
bất cập chung thường gặp khi thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch
- Trường hợp
chứng minh thư của một trong các bên tham gia hợp đồng đã hết hạn sử dụng, hầu
hết các Văn phòng - Phòng Công chứng vẫn tiếp nhận hồ sơ công chứng. Tuy nhiên,
có Văn phòng - Phòng Công chứng yêu cầu người có chứng minh thư hết hạn phải
viết bản cam kết làm lại chứng minh thư; có Văn phòng - Phòng Công chứng yêu
cầu người có chứng minh thư hết hạn phải điểm chỉ vào hợp đồng;
- Trường hợp
một trong các bên tham gia hợp đồng ở nước ngoài thời gian đã lâu nên chỉ có hộ
chiếu và hộ khẩu tại Việt Nam đã bị cắt hoặc không có hộ khẩu tại Việt Nam,
đồng thời không thể cung cấp được xác nhận tạm trú/ định cư ở nước ngoài: có
Văn phòng - Phòng Công chứng không tiếp nhận hồ sơ công chứng, có Văn phòng -
Phòng Công chứng vẫn tiếp nhận hồ sơ công chứng để xác minh, thẩm định và xem
xét công chứng hợp đồng giao dịch;
- Đối với
trường hợp đính chính lỗi kỹ thuật trong hợp đồng, hiện nay các Văn phòng -
Phòng Công chứng đang áp dụng quy định của pháp luật với nhiều cách khác nhau,
có những lỗi, những bổ sung liên quan đến nội dung hợp đồng vẫn được các Văn
phòng - Phòng Công chứng áp dụng như sửa lỗi kỹ thuật;
- Có một số
Văn phòng - Phòng Công chứng, công chứng viên không ký vào từng trang của hợp
đồng, giấy tờ công chứng mà chỉ ký ở trang lời chứng còn ở từng trang đã có chữ
ký nháy của chuyên viên nghiệp vụ hoặc thư ký công chứng viên;
- Khi thực
hiện công chứng hủy giao dịch, hợp đồng đã được công chứng tại Văn phòng -
Phòng Công chứng người yêu cầu hủy giao dịch, hợp đồng không cung cấp được các
bản Văn bản, Hợp đồng đã công chứng thì Văn phòng - Phòng Công chứng cũng không
đề nghị người yêu cầu hủy giao dịch, hợp đồng cung cấp mà chỉ cần lập bản cam
kết đã để thất lạc.
Mục
2
THỦ
TỤC CÔNG CHỨNG DI CHÚC
I. THỦ TỤC
CÔNG CHỨNG DI CHÚC
1. Hồ sơ
công chứng
Người yêu
cầu công chứng di chúc cần xuất trình bản sao (kèm theo bản chính để đối chiếu)
các loại giấy tờ sau:
- Chứng minh
nhân dân hoặc giấy tờ tuỳ thân khác (hộ chiếu, chứng minh sĩ quan,
giấy chứng nhận công nhân viên quốc phòng, giấy kiểm tra tạm thời)
đang còn trong thời hạn sử dụng, hộ khẩu hoặc giấy xác nhận thường
trú của người lập di chúc.
- Các giấy
tờ hợp lệ chứng minh quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản như:
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, Giấy đăng ký xe ô tô - xe máy, Sổ tiết kiệm, …
- Các giấy
tờ chứng minh tài sản để lại theo di chúc là tài sản chung hay tài sản
riêng của vợ chồng phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Giấy khám
sức khoẻ của người lập di chúc (Do Bệnh viện hoặc Trung tâm y tế
quận, huyện lập).
- Phiếu yêu
cầu công chứng (theo mẫu)
2. Thủ
tục, trình tự công chứng di chúc
- Người lập
di chúc phải tự mình yêu cầu việc công chứng di chúc, không thông qua
người khác, không ủy quyền cho người khác. Người lập di chúc phải
tự tay viết và ký vào bản di chúc của mình.
- Nếu người
lập di chúc bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ thì phải
có 2 người làm chứng. Người lập di chúc tuyên bố nội dung di chúc
của mình trước công chứng viên, công chứng viên ghi chép lại nội dung
mà người lập di chúc tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ
vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính
xác và thể hiện đúng ý chí của mình.
3. Các lưu
ý khi thực hiện thủ tục công chứng di chúc
3.1.
Người làm chứng (đối với trường hợp người lập di chúc bị hạn chế
về thể chất hoặc không biết chữ, hoặc không biết tiếng Việt) là
người đọc thông viết thạo tiếng Việt, người phiên dịch là người có
thể dịch đúng và chính xác nội dung di chúc từ tiếng Việt sang
tiếng nước của người lập di chúc sử dụng. Người làm chứng, người
dịch phải có đủ năng lực hành vi và mang theo chứng minh nhân dân, hộ
khẩu.
Người không được làm chứng cho việc lập di
chúc: (Điều 659 Bộ Luật
Dân sự)
- Người
thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
- Người có
quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc;
- Người chưa
đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.
3.2.
Trường hợp nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc các
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình hoặc
xét thấy việc lập di chúc có dấu hiệu lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng
ép, thì Công chứng viên không công chứng di chúc đó (trích khoản 2,
điều 48 của Luật Công chứng.).
3.3. Di
chúc do Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng công chứng được thực hiện
tại trụ sở của Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng. Trường hợp tính
mạng bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác mà người
lập di chúc không thể đến trụ sở Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng
thì việc công chứng di chúc được thực hiện tại chỗ ở hoặc nơi có
mặt của người lập di chúc. Thủ tục công chứng di chúc ngoài trụ sở của
Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng phải được thực hiện như thủ tục công
chứng tại trụ sở.
3.4. Di
chúc bằng văn do các cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực
- Di chúc do
Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường chứng thực (Trích điều 24 thẩm quyền
chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã tại Nghị định 75/2000/NĐ-CP
ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực);
- Di chúc do
Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng công chứng;
- Di chúc do
các cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực có giá trị pháp lý
ngang nhau (khoản 4, Điều 14 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của
Chính phủ về công chứng, chứng thực).
- Người lập
di chúc có thể yêu cầu bất cứ cơ quan có thẩm quyền công chứng,
chứng thực như đã nêu trên công chứng, chứng thực di chúc của mình
theo các quy định của pháp luật.
3.5.
Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc
vào bất cứ lúc nào.
Nếu người
lập di chúc bổ sung di chúc, thì di chúc đã lập và phần bổ sung đều
có hiệu lức pháp luật như nhau; nếu phần di chúc đã lập vàphần bổ
sung mâu thuẫn nhau, thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.
Trong trường
hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới, thì di chúc
trước bị huỷ bỏ (Điều 662 Bộ Luật Dân sự).
3.6.
Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ di
chúc có thể được công chứng, chứng thực tại bất kỳ cơ quan nhà nước
có thẩm quyền công chứng, chứng thực nào (khoản 5, Điều 50 Nghị định
75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực)
.
Trong trường
hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì
người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đó biết việc
sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc.
3.7.
Trường hợp tài sản được định đoạt trong di chúc là quyền sử dụng
đất ngoài những hướng dẫn theo các văn bản hướng dẫn công chứng còn
được thực hiện theo các quy định khác của pháp luật về đất đai.
4.
Thủ tục nhận lưu giữ di chúc
4.1. Cá nhân giữ bản di chúc có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giữ bí mật nội dung di chúc;
b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc,
hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc;
c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm
quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc
phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có
mặt của hai người làm chứng.
4.2.
Người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ di
chúc của mình. Khi nhận lưu giữ di chúc, công chứng viên phải niêm phong bản di
chúc trước mặt người lập di chúc, ghi giấy nhận lưu giữ và giao cho người lập
di chúc.
4.3.
Đối với di chúc đã được tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ nhưng sau đó
giải thể hoặc chấm dứt hoạt động thì trước khi giải thể hoặc chấm dứt hoạt
động, tổ chức hành nghề công chứng phải thoả thuận với người lập di chúc về
việc chuyển cho tổ chức hành nghề công chứng khác lưu giữ di chúc. Trường hợp
không thoả thuận được thì phải trả lại di chúc và phí lưu giữ di chúc cho người
lập di chúc.
4.4. Việc
công bố di chúc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng được thực hiện theo
quy định của pháp luật về dân sự.
II. MỘT SỐ
BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC CÔNG CHỨNG
Phòng Công
chứng, Văn phòng Công chứng thường không đề nghị người yêu cầu công chứng cung
cấp Giấy khám sức khỏe để chứng minh tình trạng sức khỏe, trạng thái
tinh thần của người lập di chúc do nhận định người yêu cầu công chứng đến đề
nghị thực hiện công chứng di chúc trong tình trạng sức khỏe tốt, tinh thần minh
mẫn.
Mục
3
CÔNG
CHỨNG VĂN BẢN TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN, VĂN BẢN KHAI NHẬN, PHÂN CHIA DI SẢN
I. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN (theo Điều
642 Bộ luật Dân sự)
1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ
trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của
mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản;
người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ
phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày
mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di
sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.
II.
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG
1.
Hồ sơ công chứng Văn bản từ chối nhận di sản
Phiếu
yêu cầu công chứng (theo mẫu);
Giấy
chứng tử của người để lại di sản;
Văn
bản từ chối nhận di sản do người yêu cầu công chứng tự soạn thảo hoặc do Văn
phòng Công chứng, Phòng Công chứng soạn thảo;
1.1
Nếu người từ chối nhận di sản là công dân
-
Chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy khai sinh, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài
hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ tuỳ thân khác của người
từ chối nhận di sản (bản chính và bản sao);
-
Giấy tờ chứng minh người từ chối nhận di sản là người được hưởng di sản theo di
chúc hoặc theo pháp luật (bản chính và bản sao);
1.2
Nếu người từ chối nhận di sản là pháp nhân
-
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
-
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
- Chứng minh
nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước
ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và bản sao);
-
Giấy tờ chứng minh pháp nhân từ chối nhận di sản là người được hưởng di sản
theo di chúc (bản chính và bản sao);
2. Hồ sơ công chứng Văn bản
khai nhận, phân chia di sản:
- Phiếu yêu cầu công chứng;
- Văn bản
khai nhận, phân chia di sản do người yêu cầu công chứng tự soạn thảo hoặc đề
nghị Văn phòng - Phòng Công chứng soạn thảo;
- Giấy tờ về di
sản thừa kế như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở,
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất, Sổ tiết kiệm, đăng ký xe ô tô, … (bản chính và bản sao)
- Chứng tử
của những người sau (bản chính và bản sao):
+
Người chết để lại di sản;
+
Trong số những người gồm bố, mẹ, vợ, con của người để lại di sản có người đã
chết
- Di chúc của
người chết để lại di sản (nếu có) (bản chính và bản sao);
- Giấy tờ
chứng minh quan hệ của những người sau đây với người chết để lại di sản (bản
chính và bản sao):
+ Vợ
(chồng) của người chết để lại di sản;
+ Bố,
mẹ của người chết để lại di sản (bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi);
+ Con
của người để lại di sản (con nuôi, con đẻ);
+ Cháu
của người để lại di sản (trường hợp thừa kế thế vị)
- Chứng minh
nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hoặc giấy tờ hợp pháp
khác về nhân thân những người sau, còn sống đến thời điểm yêu cầu công chứng
vẫn còn sống (bản chính và bản sao):
+ Bố,
mẹ của người chết để lại di sản (bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi);
+ Vợ
(chồng) của chết người để lại di sản;
+ Con
của người để lại di sản (con nuôi, con đẻ);
+ Cháu của
người để lại di sản (trường hợp thừa kế thế vị)
- Hộ khẩu của
những người sau (bản chính và bản sao):
+ Hộ khẩu của
người chết để lại di sản (nếu có);
+ Hộ
khẩu (bản chính và bản sao) của những người gồm: bố, mẹ, vợ, con, cháu (trường
hợp thừa kế thế vị) của người để lại di sản đến thời điểm yêu cầu công chứng
vẫn còn sống
- Sơ yếu lý
lịch hoặc lý lịch Đảng viên (bản chính và bản sao) của một trong những người
thuộc hàng thừa kế còn sống có liệt kê những người thừa kế;
- Văn bản từ
chối nhận di sản của một trong những người thừa kế (bản chính và bản sao) (nếu
có)
3. Thủ tục công chứng
3.1. Công
chứng Văn bản từ chối nhận di sản: Theo quy định chung về thủ tục công
chứng hợp đồng, giao dịch
3.2. Công
chứng Văn bản thỏa thuận khai nhận, phân chia di sản
3.2.3.
Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản
- Những người
thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ
phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng văn
bản thoả thuận phân chia di sản.
- Trong văn
bản thoả thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn
bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác.
- Trong trường hợp di sản là quyền sử dụng đất
hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì người yêu cầu
công chứng phải xuất trình giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản của người để lại di sản đó.
- Trong
trường hợp thừa kế theo pháp luật, người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình
giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản
theo quy định của pháp luật về thừa kế.
- Trong
trường hợp thừa kế theo di chúc, người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình
di chúc.
- Công chứng
viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người
được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản
và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc
theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh.
- Văn bản
thoả thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản cho người được hưởng di sản.
3.2.4.
Công chứng văn bản khai nhận di sản
- Người duy
nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản
theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công
chứng văn bản khai nhận di sản.
- Việc
công chứng văn bản khai nhận di sản được thực hiện theo quy định tại các khoản
2, 3 và 4 Điều 49 của Luật Công chứng
III. MỘT
SỐ BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC CÔNG CHỨNG VĂN BẢN TỪ CHỐI NHẬN DI
SẢN, VĂN BẢN KHAI NHẬN, PHÂN CHIA DI SẢN
- Các Văn
phòng Công chứng, Phòng Công chứng trong quá trình thực hiện thủ tục công chứng
văn bản từ chối nhận di sản thường ít khi sai sót. Tuy nhiên đã có một số Văn
phòng Công chứng, Phòng Công chứng thực hiện công chứng Văn bản từ chối nhận di
sản khi mà đã hết thời hạn từ chối theo khoản 3 Điều 642 Bộ luật Dân sự. Nguyên
nhân chủ yếu là do đó là những trường hợp khó xác định được thời điểm mở thừa
kế hoặc bản thân người yêu cầu công chứng không thể biết thời điểm mở thừa kế
là khi nào;
- Hiện nay
khi nhận được yêu cầu công chứng Văn bản từ chối nhận di sản, các Văn phòng -
Phòng Công chứng không thể nào kiểm tra được việc từ chối nhận di sản có nhằm
trốn tránh nghĩa vụ của người yêu cầu công chứng hay không nên khi soạn thảo
Văn bản thường có những nội dung cam đoan như: “Việc từ chối nhận di sản
không nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình đối với người khác, không làm ảnh hưởng
đến quyền, lợi ích hợp pháp của bất cứ ai…”.
- Đối với
việc công chứng Văn bản khai nhận, phân chia di sản, các vấn đề bất cập thường
gặp của Văn phòng - Phòng Công chứng như sau:
+ Trong việc
xác định những người được quyền thừa kế di sản của người chết để lại theo quy
định của pháp luật thì đối với trường hợp những người chết đã cao tuổi, bố mẹ
của họ đã chết từ trước 1975 rất khó để người yêu cầu công chứng xin được xác
nhận của cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp này, có Văn phòng - Phòng Công
chứng không đề nghị người yêu cầu công chứng phải chứng minh bố mẹ của người
chết đã chết, có Văn phòng - Phòng Công chứng bắt buộc người yêu cầu công chứng
phải có giấy tờ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
+ Một trường
hợp cụ thể như: người để lại di sản chết năm 2000 không để lại di chúc, con
đẻ của người để lại di sản chết năm 2001. Đến năm 2010, những người thừa kế mới
thực hiện thủ tục công chứng văn bản khai nhận, phân chia di sản thì các Văn
phòng - Phòng Công chứng hiện nay đang có quan điểm và cách giải quyết khác
nhau. Một số Văn phòng - Phòng Công chứng cho rằng thời điểm mở thừa kế là thời
điểm thực hiện công chứng văn bản khai nhận, phân chia di sản vì vậy không áp
dụng quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp này, do đó không đưa người
cháu (con của người con đẻ chết năm 2001) vào danh sách những người được thừa
kế. Một số Văn phòng - Phòng Công chứng cho rằng thời điểm mở thừa kế là thời
điểm người để lại di sản chết năm 2000, vào thời điểm này người con đẻ con sống
nên được quyền hưởng thừa kế, nhưng khi công chứng văn bản khai nhận, phân chia
di sản người con đẻ đã chết nên người cháu (con của người con đẻ chết năm 2001)
sẽ được quyền hưởng thừa kế thay bố, do đó vẫn được Văn phòng - Phòng Công
chứng đưa vào danh sách những người được hưởng di sản thừa kế.
- Theo quy
định của Nghị định 75/2000/NĐ-CP thì khi thực hiện công chứng văn bản khai
nhận, phân chia di sản thừa kế phải thực hiện niêm yết Thông báo khai nhận
thừa kế tại Ủy ban nhân dân xã, phường 30 ngày, còn trong Luật Công chứng
thì không có quy định nào về vấn đề này. Do đó, có Văn phòng – Phòng Công chứng
khi thực hiện công chứng đã không thực hiện thủ tục niêm yết thông báo khai
nhận thừa kế có Văn phòng – Phòng Công chứng vẫn thực hiện thủ tục này.
Mục
4
THỦ
TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÁI SẢN
I. THỦ TỤC
CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
công chứng
Phiếu yêu cầu
công chứng (theo mẫu)
Bản thảo Hợp
đồng do các bên tự soạn thảo hoặc có thể yêu cầu Văn phòng – Phòng Công chứng
soạn thảo
1.1.
Giấy tờ bên bán
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng bên bán
hoặc của người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên bán không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của người vợ
và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Trường hợp
bên bán hiện đang độc thân thì phải có một trong các giấy tờ sau:
+ Giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân của Uỷ ban nhân dân xã phường xác nhận chưa đăng ký
kết hôn lần nào (bản chính và bản sao);
+ Bản án và
giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận sau khi ly hôn cho đến thời điểm ký
hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản chính và bản sao);
+ Giấy chứng
tử của vợ (chồng) và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận từ thời điểm vợ
(chồng) chết cho đến thời điểm ký hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản
chính và bản sao);
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
- Giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu tài sản (bản chính và bản sao)
1.2.
Giấy tờ bên mua
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng hoặc của
người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
2. Thủ tục
công chứng: Theo quy định về thủ tục chung công chứng các hợp đồng, giao
dịch
Mục
5
THỦ
TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH MUA BÁN, CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN
VỚI ĐẤT
I. THỦ TỤC
CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
công chứng
Phiếu yêu cầu
công chứng (theo mẫu)
Bản thảo Hợp
đồng do các bên tự soạn thảo hoặc có thể yêu cầu Văn phòng - Phòng Công chứng
soạn thảo
1.1.
Giấy tờ bên bán, chuyển nhượng
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng hoặc của người
được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên bán không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của người vợ
và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Trường hợp
bên bán hiện đang độc thân thì phải có một trong các giấy tờ sau:
+ Giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân của Uỷ ban nhân dân xã phường xác nhận chưa đăng ký
kết hôn lần nào (bản chính và bản sao);
+ Bản án và
giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận sau khi ly hôn cho đến thời điểm ký
hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản chính và bản sao);
+ Giấy chứng
tử của vợ (chồng) và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận từ thời điểm vợ
(chồng) chết cho đến thời điểm ký hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản
chính và bản sao);
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
- Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bản chính
và bản sao)
- Trường hợp
bán một phần nhà đất thì cần có bản chính các giấy tờ sau:
+ Công văn của
Văn phòng Đăng ký Đất và Nhà hoặc Phòng Tài nguyên - Môi trường;
+ Hồ sơ kĩ
thuật thửa đất, hồ sơ hiện trạng nhà.
- Nếu nhà ở, đất ở, tài sản gắn liền đem mua bán,
chuyển nhượng là tài sản riêng của vợ (chồng) thì phải có giấy tờ chứng minh
tài sản riêng, ví dụ: hợp đồng tặng cho riêng, văn bản khai nhận, phân chia di
sản thừa kế chứng minh được thừa kế riêng, bản án của Toà án, văn bản thoả
thuận tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng… (bản chính và bản sao)
1.2.
Giấy tờ bên mua, bên nhận chuyển nhượng
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng hoặc của
người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên mua không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của người vợ
và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Một trong
hai vợ chồng phải có hộ khẩu Hà Nội;
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
1.3.
Các trường hợp mua bán, chuyển nhượng riêng biệt, ngoài các giấy tờ nêu trên
cần có các loại giấy tờ sau đây:
- Trường hợp
không có hộ khẩu tại Hà Nội thì phải có loại giấy tờ sau (Theo quyết định số
214/2005/QĐ-UB ngày 09/12/2005 của UBND thành phố Hà Nội):
+ Giấy xác
nhận của tổ chức, đơn vị quản lý và sử dụng lao động về việc người mua hiện
đang công tác hoặc lao động, có đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, liên tục tại Hà
Nội từ 03 năm trở lên;
+ Bản sao sổ
bảo hiểm xã hội của người mua;
+ Sổ đăng ký
tạm trú có thời hạn (còn thời hạn) hoặc giấy xác nhận của Công an phường, xã
nơi tạm trú về việc không thuộc diện bị cấm cư trú tại Hà Nội theo quy định của
bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án.
-
Trường hợp mua bán, chuyển nhượng một phần nhà ở, quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liền với đất thuộc sở hữu chung là tài sản chung hợp nhất hoặc theo phần
thì phải có: Văn bản khước từ mua/ nhận chuyển nhượng (bản chính hoặc bản sao
hợp pháp) của chủ sở hữu chung khác hoặc giấy tờ chứng minh về việc hết thời
hạn do pháp luật quy định kể từ ngày chủ sở hữu chung nhận được thông báo bán/
chuyển nhượng và các điều kiện bán/ chuyển nhượng mà không có chủ sở hữu chung
nào mua/ nhận chuyển nhượng;
-
Trường hợp mua bán chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với
đất đang cho thuê thì phải có văn bản khước từ mua/ nhận chuyển nhượng của bên
thuê hoặc giấy tờ chứng minh về việc hết thời hạn do pháp luật quy định kể từ
ngày bên thuê nhận được thông báo bán/ chuyển nhượng và các điều kiện bán/
chuyển nhượng mà bên thuê không trả lời (bản chính và bản sao).
-
Trường hợp công chứng văn bản bán đấu giá tài sản được thực hiện theo Nghị định
05/2005/NĐ-CP ngày 18/11/2005 về bán đấu giá tài sản.
-
Trường hợp công chứng việc chuyển nhượng tài sản đã cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
tại các tổ chức tín dụng được thực hiện theo Thông tư
03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-TCĐC ngày 23.04.2001
Nếu
như Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-BTP-BTNMT quy định “Đơn yêu cầu đăng
ký phải có đầy đủ chữ ký, con dấu của tổ chức, cá nhân là các bên ký kết hợp đồng
thế chấp, nếu có hoặc người được một trong các bên hoặc các bên ký kết hợp đồng
đó uỷ quyền…” thì tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số
06/2010/TTLT-BTP-BTNMT đã bổ sung quy định “Đơn yêu cầu đăng ký chỉ cần chữ
ký, con dấu của bên nhận thế chấp hoặc người được bên nhận thế chấp ủy quyền
yêu cầu đăng ký trong trường hợp yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký
về bên nhận thế chấp, sửa chữa sai sót thông tin về bên nhận thế chấp, đăng ký
văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp, xóa đăng ký thế chấp”.
- Đối với việc mua nhà của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài (theo điều 126 Luật Nhà ở sửa đổi, bổ sung): Đối tượng được
sở hữu nhà ở tại Việt Nam:
+
Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam
+
Người có công đóng góp với đất nước
+ Nhà
văn hóa, nhà khoa học và chuyên gia hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm
phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước.
+ Người được phép về sống ổn định tại Việt
Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà
ở tại Việt Nam.
2. Thủ tục
công chứng: Theo quy định chung về thủ tục công chứng các hợp đồng, giao
dịch
II. MỘT SỐ
BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG
- Hiện nay,
sau khi có quyết định 117/2009/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội được
ban hành thì thủ tục chuyển nhượng và thực hiện đăng ký sang tên chuyển nhượng
nhà ở, đất ở, tài sản gắn liền với đất đang được thực hiện khác nhau ở mỗi quận
của thành phố. Từ đó, kéo theo việc thực hiện công chứng hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng của Văn phòng – Phòng Công chứng cũng đang được thực hiện rất
khác nhau
Ví dụ: Đối
với trường hợp mua bán/ chuyển nhượng một phần nhà ở và đất ở thì khi đăng ký
sang tên có Văn phòng nhà đất quận yêu cầu phải có công văn tách thửa và hồ sơ
kỹ thuật có Văn phòng nhà đất lại không yêu cầu. Do đó, có trường hợp khi tiếp
nhận hồ sơ Văn phòng – Phòng Công chứng đề nghị người yêu cầu công chứng phải
cung cấp hoặc không cần phải cung cấp
Ví dụ: Đối
với trường hợp bên mua/ nhận chuyển nhượng không có hộ khẩu Hà Nội, Văn phòng
nhà đất quận có nơi yêu cầu phải có hộ khẩu, có nơi không yêu cầu. Do đó, Văn
phòng - Phòng Công chứng cũng tuỳ vào từng trường hợp nhà ở, đất ở tại địa bàn
quận nào mà áp dụng điều kiện về hồ sơ
- Đối với
trường hợp bên bán/ chuyển nhượng đã uỷ quyền cho người khác thực hiện việc mua
bán, chuyển nhượng thì khi thực hiện công chứng hợp đồng mua bán/ chuyển nhượng
có Văn phòng - Phòng Công chứng đề nghị người yêu cầu công chứng phải cung cấp
bản chính Hợp đồng uỷ quyền để lưu hồ sơ, có Văn phòng - Phòng Công chứng chỉ
cần lưu bản sao và sử dụng bản chính chỉ để đối chiếu;
- Trường
hợp người yêu cầu công chứng đã lập Hợp đồng chuyển nhượng từ lâu những chưa
thực hiện đăng ký sang tên, nay đến đề nghị Văn phòng - Phòng Công chứng hủy
Hợp đồng đã lập. Có Văn phòng - Phòng Công chứng tiếp nhận hồ sơ hủy Hợp đồng,
có Văn phòng - Phòng Công chứng không tiếp nhận.
Mục
6
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN
I. THỦ TỤC
CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
công chứng
Phiếu yêu cầu
công chứng (theo mẫu)
Bản thảo Hợp
đồng do các bên tự soạn thảo hoặc có thể yêu cầu Văn phòng - Phòng Công chứng
soạn thảo
Giấy tờ chứng
minh quan hệ giữ bên tặng cho và bên nhận tặng cho
1.1.
Giấy tờ bên tặng cho
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng bên tặng
cho hoặc của người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên bán không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của người vợ
và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Trường hợp
bên tặng cho hiện đang độc thân thì phải có một trong các giấy tờ sau:
+ Giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân của Uỷ ban nhân dân xã phường xác nhận chưa đăng ký
kết hôn lần nào (bản chính và bản sao);
+ Bản án và
giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận sau khi ly hôn cho đến thời điểm ký
hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản chính và bản sao);
+ Giấy chứng
tử của vợ (chồng) và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận từ thời điểm vợ
(chồng) chết cho đến thời điểm ký hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản
chính và bản sao);
- Nếu bên
tặng cho là pháp nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên liên quan đến hợp đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
- Giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu tài sản (bản chính và bản sao)
1.2.
Giấy tờ bên nhận tặng cho
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng nhận tặng
cho (bản chính và bản sao);
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao)
2. Thủ tục
công chứng: Theo quy định về thủ tục chung công chứng các hợp đồng, giao
dịch
Mục
7
THỦ
TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH TẶNG CHO QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
I. THỦ TỤC
CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
công chứng
Phiếu yêu cầu
công chứng (theo mẫu)
Bản thảo Hợp
đồng do các bên tự soạn thảo hoặc có thể yêu cầu Văn phòng - Phòng Công chứng
soạn thảo
Giấy tờ chứng
minh quan hệ giữ bên tặng cho và bên nhận tặng cho
1.1.
Giấy tờ bên tặng cho
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội – công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng bên tặng
cho hoặc của người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên bán không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của người vợ
và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Trường hợp
bên tặng cho hiện đang độc thân thì phải có một trong các giấy tờ sau:
+ Giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân của Uỷ ban nhân dân xã phường xác nhận chưa đăng ký
kết hôn lần nào (bản chính và bản sao);
+ Bản án và
giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận sau khi ly hôn cho đến thời điểm ký
hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản chính và bản sao);
+ Giấy chứng
tử của vợ (chồng) và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận từ thời điểm vợ
(chồng) chết cho đến thời điểm ký hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản
chính và bản sao);
- Nếu bên
tặng cho là pháp nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên liên quan đến hợp đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
- Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bản chính
và bản sao)
- Trường hợp
tặng cho một phần nhà đất thì cần có thêm bản chính các giấy tờ sau:
+ Công văn
của Văn phòng Đăng ký Đất và Nhà hoặc Phòng Tài nguyên - Môi trường;
+ Hồ sơ kĩ
thuật thửa đất, hồ sơ hiện trạng nhà.
- Nếu nhà ở, đất ở, tài sản gắn liền đem tặng cho
là tài sản riêng của vợ (chồng) thì phải có giấy tờ chứng minh tài sản riêng,
ví dụ: hợp đồng tặng cho riêng, văn bản khai nhận, phân chia di sản thừa kế
chứng minh được thừa kế riêng, bản án của Toà án, văn bản thoả thuận tài sản
riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng… (bản chính và bản sao)
1.2.
Giấy tờ bên nhận tặng cho
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội – công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng nhận tặng
cho (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên nhận tặng cho không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của
người vợ và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Một trong
hai vợ chồng phải có hộ khẩu Hà Nội;
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao).
1.3.
Các trường hợp tặng cho đặc biệt, ngoài các giấy tờ nêu trên cần có các
loại giấy tờ sau đây:
- Trường hợp
không có hộ khẩu tại Hà Nội thì phải có loại giấy tờ sau (Theo quyết định số
214/2005/QĐ - UB ngày 09/12/2005 của UBND thành phố Hà Nội):
+ Giấy xác
nhận của tổ chức, đơn vị quản lý và sử dụng lao động về việc người mua hiện
đang công tác hoặc lao động, có đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, liên tục tại Hà
Nội từ 03 năm trở lên;
+ Bản sao sổ
bảo hiểm xã hội của người mua;
+ Sổ đăng ký
tạm trú có thời hạn (còn thời hạn) hoặc giấy xác nhận của Công an phường, xã
nơi tạm trú về việc không thuộc diện bị cấm cư trú tại Hà Nội theo quy định của
bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án.
- Đối với việc tặng cho người Việt Nam định cư ở
nước ngoài (theo điều 126 Luật Nhà ở): Đối tượng được sở hữu nhà ở tại
Việt Nam:
+ Người về
đầu tư lâu dài tại Việt Nam
+ Người có
công đóng góp với đất nước
+ Nhà văn
hóa, nhà khoa học và chuyên gia hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục
vụ sự nghiệp xây dựng đất nước.
+ Người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và
các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại
Việt Nam.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc
các diện trên đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ 06 tháng trở lên
được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.
2. Thủ tục
công chứng: Theo quy định về thủ tục chung công chứng các hợp đồng, giao
dịch
II. MỘT SỐ
BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG
Khi
thực hiện công chứng hợp đồng tặng cho các Văn phòng – Phòng Công chứng cũng
gặp một số bất cập tương tự như khi thực hiện công chứng hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, quyền sử dụng đất,
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất liên quan đến công văn tách thửa,
đến trường hợp bên nhận tặng cho có hộ khẩu Hà Nội hay không …
Mục
8
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN, GIẤY UỶ QUYỀN
I. MỘT SỐ
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN, GIẤY UỶ QUYỀN
1. Hợp đồng
uỷ quyền là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên được uỷ quyền
có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền (Điều 585 Bộ
Luật Dân sự).
2. Hợp đồng
uỷ quyền chấm dứt trong những trường hợp sau:
- Hợp đồng
uỷ quyền hết hạn.
- Công việc
được uỷ quyền đã hoàn thành.
- Bên uỷ
quyền, bên được uỷ quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy dịnh
tại điều 420 và điều 593 của Bộ Luật Dân sự.
- Bên uỷ
quyền hoặc bên được uỷ quyền chết, mất năng lực hành vi dân sự, bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự (Theo điều 594 Bộ Luật Dân sự).
3. Việc uỷ
quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được uỷ quyền
hoặc để chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản
phải được lập thành hợp đồng. Các trường hợp khác thì không cần
phải lập thành hợp đồng uỷ quyền mà có thể lập thành giấy uỷ
quyền và chỉ cần người uỷ quyền ký vào giấy uỷ quyền (Điều 48 của
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công
chứng, chứng thực)
II. THỦ
TỤC CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
yêu cầu công chứng:
Phiếu
yêu cầu công chứng (theo mẫu);
Bản thảo Hợp
đồng/Giấy uỷ quyền do các bên tự soạn thảo hoặc có thể yêu cầu Văn phòng -
Phòng Công chứng soạn thảo
1.1.
Các giấy tờ bên uỷ quyền phải cung cấp:
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng hoặc của
người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên uỷ quyền không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của
người vợ và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
1.1.1. Đối
với trường hợp uỷ quyền liên quan đến bất động sản thì cần có:
- Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bản chính
và bản sao)
- Nếu đối tượng của Hợp đồng uỷ quyền là nhà ở,
đất ở, tài sản gắn liền là tài sản riêng của vợ (chồng) thì phải có giấy tờ
chứng minh tài sản riêng, ví dụ: hợp đồng tặng cho riêng, văn bản khai nhận,
phân chia di sản thừa kế chứng minh được thừa kế riêng, bản án của Toà án, văn
bản thoả thuận tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng… (bản chính và
bản sao)
- Trường hợp
bên uỷ quyền hiện đang độc thân thì phải có một trong các giấy tờ sau:
+ Giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân của Uỷ ban nhân dân xã phường xác nhận chưa đăng ký
kết hôn lần nào (bản chính và bản sao);
+ Bản án và
giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận sau khi ly hôn cho đến thời điểm ký
hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản chính và bản sao);
+ Giấy chứng
tử của vợ (chồng) và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận từ thời điểm vợ
(chồng) chết cho đến thời điểm ký hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản
chính và bản sao);
1.1.2 Đối
với các trường hợp uỷ quyền khác: người yêu cầu công chứng phải cung cấp
các giấy tờ theo quy định của pháp luật để chứng minh người uỷ quyền được phép
uỷ quyền cho người khác. Ví dụ: uỷ quyền kinh doanh thì phải có Giấy đăng ký
kinh doanh, uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án thì phải có Giấy triệu
tập ….
1.2.
Các giấy tờ bên nhận ủy quyền phải cung cấp
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của bên được ủy quyền (bản chính và
bản sao);
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
2. Thủ tục
công chứng hợp đồng/ giấy ủy quyền: được thực hiện theo thủ tục chung về
công chứng hợp đồng, giao dịch
III. MỘT
SỐ BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG/GIẤY UỶ QUYỀN
Trường hợp
thực hiện công chứng hợp đồng uỷ quyền nối (trước đó người uỷ quyền đã nhận
uỷ quyền từ khác bằng một hợp đồng uỷ quyền) cho người thứ ba thì trong hợp
đồng uỷ quyền lần đầu không quy định “người nhận uỷ quyền được uỷ quyền lại
cho bên thứ ba”. Tuy nhiên khi thực hiện công chứng, có Văn phòng - Phòng
Công chứng vẫn thực hiện hợp đồng uỷ quyền nối từ người nhận uỷ quyền đầu tiên
sang người nhận uỷ quyền tiếp theo (người thứ ba) có Văn phòng - Phòng
Công chứng không thực hiện
Mục
9
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG
HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP, CẦM CỐ, THẾ CHẤP ĐỂ BẢO LÃNH
I. THỦ TỤC
CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
yêu cầu công chứng:
Phiếu
yêu cầu công chứng (theo mẫu);
Bản thảo Hợp
đồng do các bên tự soạn thảo hoặc có thể yêu cầu Văn phòng - Phòng Công chứng
soạn thảo
1.1.
Các giấy tờ bên thế chấp, cầm cố phải cung cấp:
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội – công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của người vợ, người chồng hoặc của
người được uỷ quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
- Trường hợp
hai vợ chồng bên uỷ quyền không cùng hộ khẩu thì phải cung cấp hộ khẩu của
người vợ và hộ khẩu của người chồng và Giấy đăng ký kết hôn;
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền đã được công chứng (bản chính và bản sao);
1.1.1. Đối
với trường hợp thế chấp liên quan đến bất động sản thì cần có:
- Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (bản chính
và bản sao)
- Nếu đối tượng của Hợp đồng là nhà ở, đất ở, tài
sản gắn liền là tài sản riêng của vợ (chồng) thì phải có giấy tờ chứng minh tài
sản riêng, ví dụ: hợp đồng tặng cho riêng, văn bản khai nhận, phân chia di sản
thừa kế chứng minh được thừa kế riêng, bản án của Toà án, văn bản thoả thuận tài
sản riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng… (bản chính và bản sao)
- Trường hợp
bên uỷ quyền hiện đang độc thân thì phải có một trong các giấy tờ sau:
+ Giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân của Uỷ ban nhân dân xã phường xác nhận chưa đăng ký
kết hôn lần nào (bản chính và bản sao);
+ Bản án và
giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận sau khi ly hôn cho đến thời điểm ký
hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản chính và bản sao);
+ Giấy chứng
tử của vợ (chồng) và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận từ thời điểm vợ
(chồng) chết cho đến thời điểm ký hợp đồng chưa đăng ký kết hôn với ai (bản
chính và bản sao);
1.1.2 Đối
với các trường hợp tài sản thế chấp là động sản, tài sản hình thành trong tương
lai: người yêu cầu công chứng phải cung cấp các giấy tờ để chứng minh quyền
sở hữu theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Giấy đăng ký xe ô tô, Hóa đơn
chứng từ hàng hóa,…
1.2.
Các giấy tờ bên nhận thế chấp, cầm cố phải cung cấp:
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của bên được ủy quyền (bản chính và
bản sao);
- Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
+
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
+
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
+
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
+
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch.
1.3.
Trường hợp thế chấp vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng cần bổ sung thêm các
giấy tờ sau:
-
Đăng ký mẫu dấu, chữ ký của Ngân hàng, tổ chức tín dụng tại Văn phòng - Phòng
Công chứng
-
Biên bản định giá tài sản;
-
Hợp đồng tín dụng (nếu trong hợp đồng thế chấp không ghi rõ thế chấp tài sản để
bảo đảm nghĩa vụ là khoản vay bao nhiêu)
-
Trường hợp hợp đồng thế chấp để bảo lãnh nghĩa vụ của bên thứ ba được lập giữa
ba bên thì cần phải có các giấy tờ sau của bên thứ ba:
+
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội – công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của bên được ủy quyền (bản chính và
bản sao);
+ Nếu là pháp
nhân thì phải cung cấp các giấy tờ sau:
* Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
* Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo
pháp luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền
(bản chính và bản sao);
* Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam
định cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản
chính và bản sao);
* Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện
hợp đồng giao dịch;
2. Thủ tục
công chứng hợp đồng: được thực hiện theo thủ tục chung về công chứng hợp
đồng, giao dịch
Một số
lưu ý trong thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp, cầm cố:
2.1.
Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện công chứng hợp đồng
thế chấp bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
có bất động sản, trừ trường hợp nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một
nghĩa vụ thì việc công chứng hợp đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ
chức hành nghề công chứng có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương nơi có một trong số bất động sản thực hiện.
2.2.
Một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng
thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một
nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp
theo phải do công chứng viên đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu thực hiện
công chứng. Trường hợp công chứng viên công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu
chuyển sang tổ chức hành nghề công chứng khác, không còn hành nghề công chứng
hoặc không thể thực hiện việc công chứng thì công chứng viên thuộc tổ chức hành
nghề công chứng đang lưu trữ hợp đồng thế chấp công chứng hợp đồng đó
III. MỘT
SỐ BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG/GIẤY UỶ QUYỀN
- Trường hợp một công ty thế chấp tài sản là
hàng hóa trong quá trình sản xuất thì thông thường Ngân hàng, tổ chức tín dụng
và công ty thế chấp không thể cung cấp đầy đủ các hóa đơn, chứng từ vì hàng hóa
nhập khẩu về từng lần theo từng đợt giải ngân của Ngân hàng sau khi ký hợp đồng
thế chấp. Văn phòng – Phòng Công chứng cũng rất khó để có thể biết được cần bao
nhiêu hóa đơn, chứng từ.
- Trong nhiều
trường hợp thế chấp bảo lãnh cho bên thứ ba được ký giữa ba bên thì Văn phòng -
Phòng Công chứng không yêu cầu bên vay vốn là pháp nhân cung cấp Biên bản họp
hội đồng thành viên liên quan đến việc thực hiện hợp đồng giao dịch
Mục
10
THỦ
TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG VAY, MƯỢN, THUÊ TÀI SẢN
I. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG
1. Hồ sơ
công chứng: Các bên cần cung cấp các giấy tờ sau khi đến yêu cầu thực hiện
thủ tục công chứng:
Phiếu yêu cầu
công chứng (theo mẫu);
Giấy
tờ sở hữu tài sản (bản chính và bản sao) của bên cho vay, cho mượn, cho thuê;
Bản thảo
hợp đồng do hai bên soạn thảo, các bên cũng có thể yêu cầu Văn phòng -
Phòng Công chứng soạn thảo hợp đồng;
1.1.
Nếu là công dân
-
Chứng minh nhân dân, chứng minh thư quân đội - công an, hộ chiếu, hộ khẩu hoặc
giấy tờ hợp pháp khác về nhân thân, nơi ở của các bên hoặc của người được uỷ
quyền đại diện nếu uỷ quyền (bản chính và bản sao);
-
Giấy tờ sở hữu tài sản (bản chính và bản sao) của bên cho vay, mượn, cho thuê;
-
Các giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, giấy tờ chứng minh tài
sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của pháp luật
(nếu có) đối với bên cho mượn, cho thuê (bản chính và bản sao).
- Bản thảo
hợp đồng do hai bên soạn thảo, các bên cũng có thể yêu cầu Văn phòng -
Phòng Công chứng soạn thảo hợp đồng.
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền có công chứng (bản chính và bản sao).
1.1.2.
Nếu là pháp nhân
-
Quyết định thành lập hoặc thừa nhận pháp nhân của cơ quan có thẩm quyền hoặc
giấy tờ hợp pháp khác (bản chính và bản sao);
-
Quyết định bổ nhiệm hoặc công nhận người đứng đầu pháp nhân (đại diện theo pháp
luật của pháp nhân) hoặc giấy uỷ quyền đại diện của pháp nhân nếu uỷ quyền (bản
chính và bản sao);
-
Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu (nếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài) hoặc giấy tờ hợp lệ của người đại diện pháp nhân (bản chính và
bản sao);
-
Biên bản họp hội đồng thành viên của pháp nhân liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng giao dịch;
- Trong
trường hợp đã uỷ quyền cho người khác thực hiện hợp đồng thì phải cung cấp Hợp
đồng uỷ quyền có công chứng (bản chính và bản sao).
1.1.3.
Trường hợp bên cho thuê nhà là người thuê nhà của Nhà nước cần có
văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép được
cho thuê lại (kèm theo hợp đồng thuê nhà của Nhà nước).
1.1.4. Đối
với bên thuê nhà là người nước ngoài thuê để ở cần có giấy phép
tạm trú hợp pháp ở Việt Nam. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê nhà ở tại Việt
Nam, Văn phòng - Phòng Công chứng có thể công chứng hợp đồng thuê nhà
để ở tại Việt Nam trong cả 2 trường hợp có Visa nhập cảnh hoặc có
giấy chứng nhận tạm trú.
1.1.5. Trường
hợp có chứng từ sở hữu hợp lệ về nhà ở, đất ở do cơ quan có thẩm
quyền của chế độ cũ cấp, chủ sở hữu cần liên hệ với Ủy ban nhân dân
quận để xác nhận nhà không thuộc diện Nhà nước quản lý.
2. Thủ tục
công chứng: Theo quy định về thủ tục chung công chứng các hợp đồng, giao
dịch
II. MỘT SỐ
BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG MƯỢN, THUÊ TÀI SẢN
- Khi soạn
thảo hợp đồng cho vay, cho mượn, thuê tài sản theo đề nghị của người yêu cầu
công chứng, một số Văn phòng - Phòng Công chứng không chú ý đến việc soạn thảo
nội dung thỏa thuận về các tài sản gắn liền với tài sản cho vay, cho mượn, cho
thuê đồng thời cũng không giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên đối với
phần tài sản gắn liền với tài sản cho vay, cho mượn, cho thuê vì vậy dễ dẫn đến
tranh chấp giữa các bên sau khi thanh lý hợp đồng cho vay, cho mượn, cho thuê;
- Khi soạn
thảo hợp đồng mượn, thuê tài sản là nhà ở, một số Văn phòng - Phòng Công chứng
không ghi rõ diện tích cho mượn, cho thuê trong hợp đồng mà chỉ ghi địa chỉ nhà
ở cho mượn, cho thuê;
- Do Luật
Công chứng và các văn bản hướng dẫn không quy định cụ thể, nên đối với trường
hợp cho người nước ngoài thuê nhà, một số Văn phòng - Phòng Công chứng không
yêu cầu bên cho thuê nhà cung cấp Giấy đăng ký kinh doanh có ghi lĩnh vực
kinh doanh: cho người nước ngoài thuê nhà theo quy định.
Phần II
CÁC HÀNH VI SAI PHẠM THƯỜNG GẶP
Tại phần I nêu trên, tác giả đã trình bày một số trường hợp
vướng mắc, khó khăn, bất cập trong hệ thống pháp luật có liên quan đến quy trình,
thủ tục công chứng hợp đồng giao dịch và một số giải pháp cụ thể trong thực tiễn
của các công chứng viên. Tác giả chưa bình luận đúng sai về các giải pháp đó
nên không phân tích cơ sở pháp lý của các giải pháp. Tác giải chỉ trình bày một
số thông tin qua khảo sát thực tế, việc đúng sai phải thông qua thanh tra,
nghêi cứu hồ sơ, xác minh cụ thể mới có thể kết luận đầy đủ, toàn diện và chính
xác. Tuy nhiên để phòng ngừa các sai phạm và có tiêu chí đúng sai rõ ràng theo
pháp luật, tác giả xin trình bày các hành vi sai phạm của cá nhân, tổ chức tham
gia hoạt động công chứng để chúng ta nghiên cứu, đối chiếu, đánh giá đúng sai
khi tiến hành thanh tra, kiểm tra về nghiệp vụ công chứng.
1. Hành vi vi phạm quy định về công chứng hợp đồng,
giao dịch
- Hành vi
gian dối, không trung thực khi thực hiện việc làm chứng.
- Hành vi tự
ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để công
chứng hợp đồng, giao dịch.
- Hành vi làm
giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo, mạo danh chủ thể để được công chứng hợp đồng,
giao dịch.
- Công chứng
viên soạn thảo hợp đồng, giao dịch theo đề nghị của người yêu cầu công chứng mà
nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch không xác thực, vi phạm pháp
luật, trái đạo đức xã hội;
- Công chứng
viên thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng,
trừ trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được,
người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính
đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng;
- Thực hiện
việc công chứng không đúng thời hạn theo quy định;
- Thực hiện
việc sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định: Một số trường hợp việc sửa chữa văn bản công chứng lưu tại
Phòng công chứng còn tuỳ tiện (gạch bút chì vào văn bản nhưng không có ký nhận,
đóng dấu).
- Hành vi
công chứng viên thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản không
đúng thẩm quyền theo Điều 37 Luật Công chứng quy định về. thẩm quyền công chứng
hợp đồng, giao dịch về bất động sản:
“1. Công chứng
viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các hợp đồng,
giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
2. Công
chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng di
chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản.”
2. Hành vi
vi phạm quy định về thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, di chúc,
văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, văn bản từ chối
nhận di sản và nhận lưu giữ di chúc
- Thực hiện
công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản mà tổ chức hành nghề công
chứng có trụ sở;
- Thực hiện
không đúng quy định về công chứng đối với bất động sản đã được thế chấp để bảo
đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó
được tiếp tục công chứng để thế chấp bảo đảm cho một nghĩa vụ khác.
- Một số hồ sơ công chứng không có phiếu yêu cầu công
chứng; những hồ sơ có phiếu yêu cầu công chứng thì các phiếu này không thống
nhất nhau.
- Lời chứng của Công chứng viên trong một số văn bản công
chứng hợp đồng mua còn rườm rà, không đúng theo mẫu quy định của Bộ Tư pháp. Cụ
thể:
+ Ở phần đầu lời chứng một số văn bản công chứng không có
họ tên Công chứng viên mà chỉ ghi chung chung là : “tôi Công chứng viên ký
tên dưới đây”;
+ Có lời chứng thiếu cụm từ “phù hợp với đạo đức xã hội”;
+ Có lời chứng lại thừa thông tin và rườm rà.
+ Lời chứng một số hồ sơ không có phần ghi ngày, tháng, năm
bằng chữ theo quy định.
- Tên hợp đồng ghi không thống nhất nhau (có hợp đồng ghi
tên chung chung là “hợp đồng bảo lãnh, thế chấp”, không thể hiện cụ thể đó là
loại hợp đồng gì);
- Các phiếu hỏi lưu trong hồ sơ: có hồ sơ có, có hồ sơ
không, không thống nhất nhau;
- Việc uỷ quyền của cá nhân có thẩm quyền cho người khác
thay mặt mình tham gia giao kết trong hợp đồng cầm cố, bảo lãnh, thế chấp cũng
không có sự thống nhất: theo Bộ luật Dân sự thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức
mới là người có thẩm quyền uỷ quyền nhưng thực tế có một số hồ sơ, cấp phó của
cơ quan ngân hàng (Phó Giám đốc ngân hàng - không phải là người đứng đầu cơ
quan) ký văn bản uỷ quyền cho cán bộ của mình tiến hành giao dịch.
- Một số trường hợp công chứng hợp đồng mua bán nhà đất
nhưng hồ sơ nhà đất không rõ ràng, đang có tranh chấp, đang có quyết định thu
hồi, sơ đồ địa chính về lô đất, thửa đất và Hợp đồng mua bán không khớp nhau...
- Đặc biệt, Công chứng viên lại công chứng hợp đồng mua bán
nhà không đúng chủ sở hữu là người bán (có thể đã mua bán qua nhiều chủ, không
tìm thấy chủ cũ hoặc chủ cũ đã chết...nhưng Công chứng viên vẫn xác nhận bất
động sản được bán từ chủ gốc; cho người có tài sản đã bán đấu giá
thành để công chứng, hợp đồng bán đấu giá thành trước khi tổ chức bán đấu
giá tài sản, Công chứng viên công chứng hợp đồng cho người giao dịch không đủ
năng lực hành vi dân sự, công chứng sai thẩm quyền địa hạt, công chứng cho
người giao dịch với chính mình, công chứng cho người đại diện ký hợp đồng với
một pháp nhân do chính người đó làm đại diện, công chứng cho người không có
chứng minh thư, chứng minh thư phô tô, công chứng cho người là đại diện pháp
nhân nhưng không có biên bản họp hội đồng thành viên...
3. Đối với việc công chứng di chúc và công chứng văn bản
thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản
- Hầu hết các hồ sơ đều thiếu phiếu yêu cầu công chứng;
- Lời chứng của Công chứng viên đối với di chúc không thực
hiện đúng theo mẫu của Bộ Tư pháp (ví dụ: sắp xếp các phần lời chứng ngược thứ
tự, dùng câu từ không đúng mẫu…);
- Một số hồ sơ thiếu các tài liệu kèm theo ví dụ như chỉ có
duy nhất bản di chúc;
- Giấy chứng minh nhân dân của người lập di chúc đã quá
hạn, có trường hợp quá hạn đến 15 năm nhưng Phòng Công chứng vẫn chấp nhận để
công chứng.
- Phiếu yêu cầu tra cứu và bảng kê thống kê tài liệu lưu
trong hồ sơ: chưa thống nhất, có hồ sơ có, có hồ sơ không (những loại giấy tờ
này pháp luật không yêu cầu bắt buộc phải có).
- Thực hiện
công chứng di chúc cho cá nhân không phải là người lập di chúc hoặc người lập
di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình hoặc khi có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu
bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
- Thực hiện
công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản không kiểm tra tính xác thực về
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản hoặc không kiểm
tra để xác định người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản hoặc
khi có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp
luật;
- Công chứng
viên nhận lưu giữ di chúc không niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di
chúc, không ghi giấy nhận lưu giữ và không giao cho người lập di chúc;
- Tổ chức
hành nghề công chứng nhận lưu giữ di chúc trước khi giải thể hoặc chấm dứt hoạt
động không thoả thuận với người lập di chúc về việc chuyển cho tổ chức hành
nghề công chứng khác lưu giữ di chúc hoặc không trả lại di chúc và phí lưu giữ
di chúc cho người lập di chúc trong trường hợp không thỏa thuận được.
4. Hành vi
vi phạm quy định về hồ sơ, thủ tục đề nghị bổ nhiệm công chứng viên
- Hành vi tự
ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung của bản chính
các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Công
chứng viên, cấp Thẻ công chứng viên.
- Hành vi làm
giả Thẻ công chứng viên, sử dụng Thẻ công chứng viên giả; làm giả hoặc sử dụng
giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên.
5. Hành vi
vi phạm nghĩa vụ của Công chứng viên
- Tiết lộ
thông tin các tài liệu công chứng mà không được sự đồng ý của chủ giấy tờ bằng
văn bản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Sử dụng
thông tin, tài liệu công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác;
- Sách
nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;
- Từ chối
công chứng hợp đồng, giao dịch không có lý do chính đáng.
- Nhận, đòi
hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu công chứng ngoài
phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thoả thuận;
- Thực hiện
công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch vi
phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội;
- Thực hiện
công chứng trong trường hợp công chứng liên quan đến tài sản, lợi ích của bản
thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ
vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà
nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của
con trai, con gái, con nuôi;
- Sử dụng Thẻ
công chứng viên của người khác hoặc cho người khác sử dụng Thẻ công chứng viên
của mình để hành nghề công chứng;
- Không đủ
điều kiện hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật mà hành nghề công
chứng dưới bất kỳ hình thức nào.
6. Hành vi
vi phạm của tổ chức hành nghề công chứng
- Không đăng
báo hoặc đăng báo không đầy đủ nội dung, số lần theo quy định về nội dung đăng
ký hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng;
- Vi phạm các
quy định về chế độ báo cáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
không báo cáo bằng văn bản gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động trong trường
hợp chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; không lập, quản lý, sử dụng
các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định;
- Không niêm
yết lịch làm việc, thủ tục công chứng, phí công chứng, thù lao công chứng, nội
quy tiếp người yêu cầu công chứng tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng;
- Không thực
hiện đầy đủ thời gian làm việc theo ngày, giờ của cơ quan hành chính nhà nước;
- Vi phạm quy
định về lưu trữ hồ sơ công chứng.
- Tự ý sửa
chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề
nghị đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng ký thay đổi nội dung hoạt động,
quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, Giấy đăng ký hoạt động;
- Văn phòng
công chứng không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của
tổ chức mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
- Làm giả
hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng
ký thay đổi nội dung hoạt động, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công
chứng, Giấy đăng ký hoạt động;
- Không đăng
ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của tổ chức hành nghề công
chứng;
- Không đăng
ký, thông báo việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, tên gọi, trụ sở hoạt
động của tổ chức hành nghề công chứng;
- Hoạt động
không đúng nội dung đăng ký hoạt động, tên gọi, trụ sở hoạt động của tổ chức
hành nghề công chứng;
- Không đủ
điều kiện hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật mà hoạt động công
chứng dưới bất kỳ hình thức nào.
- Đặc biệt, Công chứng viên lại công chứng hợp đồng mua bán
nhà không đúng chủ sở hữu là người bán (có thể đã mua bán qua nhiều chủ, không
tìm thấy chủ cũ hoặc chủ cũ đã chết...nhưng Công chứng viên vẫn xác nhận bất
động sản được bán từ chủ gốc; cho người có tài sản đã bán đấu giá
thành để công chứng, hợp đồng bán đấu giá thành trước khi tổ chức bán đấu
giá tài sản, Công chứng viên công chứng hợp đồng cho người giao dịch không đủ
năng lực hành vi dân sự, công chứng sai thẩm quyền địa hạt, công chứng cho
người giao dịch với chính mình, công chứng cho người đại diện của một số người
ký hợp đồng với một pháp nhân do chính người đó làm đại diện, công chứng cho
người không có chứng minh thư, chứng minh thư phô tô, công chứng cho người là
đại diện pháp nhân nhưng không có biên bản họp hội đồng thành viên...
7. Đối với việc di chúc và văn bản thoả thuận phân chia di
sản, văn bản khai nhận di sản
- Hầu hết các hồ sơ đều thiếu phiếu yêu cầu ;
- Lời chứng của Công chứng viênđối với di chúc không thực
hiện đúng theo mẫu của Bộ Tư pháp (ví dụ: sắp xếp các phần lời chứng ngược thứ
tự, dùng câu từ không đúng mẫu…);
- Một số hồ sơ thiếu các tài liệu kèm theo ví dụ như chỉ có
duy nhất bản di chúc;
- Giấy chứng minh nhân dân của người lập di chúc đã quá
hạn, có trường hợp quá hạn đến 15 năm nhưng Phòng vẫn chấp nhận để .
- Phiếu yêu cầu tra cứu và bảng kê thống kê tài liệu lưu
trong hồ sơ: chưa thống nhất, có hồ sơ có, có hồ sơ không (những loại giấy tờ
này pháp luật không yêu cầu bắt buộc phải có).
- Thực
hiện di chúc cho cá nhân không phải là người lập di chúc hoặc người lập
di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình hoặc khi có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu
bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
- Thực
hiện văn bản thoả thuận phân chia di sản không kiểm tra tính xác thực về
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản hoặc không kiểm
tra để xác định người yêu cầu đúng là người được hưởng di sản hoặc khi có
căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật;
- Công chứng
viênnhận lưu giữ di chúc không niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di
chúc, không ghi giấy nhận lưu giữ và không giao cho người lập di chúc;
- Tổ chức
hành nghề nhận lưu giữ di chúc trước khi giải thể hoặc chấm dứt hoạt động
không thoả thuận với người lập di chúc về việc chuyển cho tổ chức hành
nghề khác lưu giữ di chúc hoặc không trả lại di chúc và phí lưu giữ di
chúc cho người lập di chúc trong trường hợp không thỏa thuận được.
8. Hành vi
vi phạm quy định về hồ sơ, thủ tục đề nghị bổ nhiệm viên
- Hành vi tự ý
sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung của bản chính các
giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm viên,
cấp Thẻ viên.
- Hành vi làm
giả Thẻ viên, sử dụng Thẻ Công chứng viên giả; làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả
mạo trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm viên.
9. Hành vi
vi phạm nghĩa vụ của viên
- Tiết lộ
thông tin các tài liệu mà không được sự đồng ý của chủ giấy tờ bằng văn
bản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Sử dụng
thông tin, tài liệu để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
- Sách
nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu;
- Từ
chối hợp đồng, giao dịch không có lý do chính đáng.
- Nhận, đòi
hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu ngoài phí ,
thù lao và chi phí khác đã được xác định, thoả thuận;
- Thực
hiện trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch vi
phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội;
- Thực
hiện trong trường hợp liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân
mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ
hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội,
ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của con
trai, con gái, con nuôi;
- Sử dụng Thẻ
Công chứng viên của người khác hoặc cho người khác sử dụng Thẻ Công chứng
viên của mình để hành nghề;
- Không đủ
điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật mà hành nghề dưới
bất kỳ hình thức nào.
10. Hành
vi vi phạm của tổ chức hành nghề
- Không đăng
báo hoặc đăng báo không đầy đủ nội dung, số lần theo quy định về nội dung đăng
ký hoạt động của tổ chức hành nghề;
- Vi phạm các
quy định về chế độ báo cáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
không báo cáo bằng văn bản gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động trong trường
hợp chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; không lập, quản lý, sử dụng
các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định;
- Không niêm
yết lịch làm việc, thủ tục , phí , thù lao , nội quy tiếp người yêu cầu
tại trụ sở của tổ chức hành nghề;
- Không thực
hiện đầy đủ thời gian làm việc theo ngày, giờ của cơ quan hành chính nhà nước;
- Vi phạm quy
định về lưu trữ hồ sơ.
- Tự ý sửa
chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề
nghị đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng ký thay đổi nội dung hoạt động,
quyết định cho phép thành lập Văn phòng , Giấy đăng ký hoạt động;
- Văn phòng
không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Công chứng viên của tổ
chức mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
- Làm giả
hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng
ký thay đổi nội dung hoạt động, quyết định cho phép thành lập Văn phòng , Giấy
đăng ký hoạt động;
- Không đăng
ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của tổ chức hành
nghề;
- Không đăng
ký, thông báo việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, tên gọi, trụ sở hoạt
động của tổ chức hành nghề;
- Hoạt động
không đúng nội dung đăng ký hoạt động, tên gọi, trụ sở hoạt động của tổ chức
hành nghề;
- Không đủ
điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật mà hoạt động dưới
bất kỳ hình thức nào.
Để tránh
trùng lặp với các bài viết khác, tác giả chỉ nêu ra một số vấn đề cơ bản khi
tiến hành thanh tra về nghiệp vụ công chứng. Nếu có nhu cầu nghiên cứu về một
quy trình thanh tra đầy đủ, đề nghị đọc giả nghiên cứu bài viết “Thanh
tra Tư pháp và quy trình một cuộc thanh tra” trên trang Web của Bộ Tư
pháp theo địa chỉ: http://nghiepvu.moj.gov.vn (sau
khi vào trang Web này xin bạn bấm phím F5 để cập nhật trang Web). Cuối
cùng, rất mong tiếp nhận những ý kiến phản hồi, trao
đổi, chia xẻ kiến thức của các đồng chí, đồng nghiệp để cùng nhau xây dựng
nghiệp vụ cho Ngành ngày càng hoàn thiện hơn. Thông tin phản hồi xin liên hệ
theo địa chỉ của tác giả: Hoàng Quốc Hùng - Thanh tra Bộ Tư pháp, Tel: 8231127
& 0913001513 & Email: Hunghq@moj.gov.vn./.
Nguồn: http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/Nghin%20cu%20trao%20i/View_Detail.aspx?ItemID=2770