“Xung đột” Pháp luật do xác định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chuẩn xác
Theo quy định của Luật đầu tư (chung) định nghĩa thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Hợp nhất 2 Luật đầu tư lại gộp 2 đối tượng khác nhau vào 1 rọ:
Theo quy định của Luật đầu tư (chung) định
nghĩa thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu
tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh
nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như
vậy, do hợp nhất Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước
cho nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy định trong Luật đầu tư
mới đã gộp lại của 2 đối tượng điều chỉnh trước đây. Tuy nhiên, quy định về định
nghĩa này đã không chuẩn xác và còn thiếu cả truờng hợp nhà đầu tư nước ngoài
góp vốn vào công ty, chi nhánh tại Việt Nam mà chính Luật đầu tư đã quy định
tại Điều 25. Hơn nữa, trước kia đã có quy định việc góp vốn vào doanh nghiệp
Việt Nam theo Quyết định
38/2003/QĐ-TTg và Nghị định 125/2004/NĐ-CP
hướng dẫn Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Cả 2 trường hợp trước đây là nhà
đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần theo tỷ lệ quy định của pháp luật cũng
không xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bởi vì, trong trường hợp
này dù nhà đầu tư nước ngoài có góp vốn hoặc mua cổ phần thì cũng chỉ là đầu tư gián tiếp do không
tham gia quản lý. Tuy nhiên, hiện nay theo định nghĩa của Luật đầu tư thì doanh
nghiệp Việt Nam thuộc 2 trường hợp trên đây cũng được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đương
nhiên nhà đầu tư nước ngoài có quyền tham gia quản lý. Do vậy, các doanh nghiệp
này nếu gọi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Luật đầu tư quy định
thì sẽ gặp nhiều hệ lụy pháp lý bất lợi, chẳng hạn như: theo Luật đất đai thì
tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được
Nhà nước Việt Nam cho thuê đất (nếu các doanh nghiệp này trước đây được giao
đất thì nay phải chuyển sang thuế đất); áp dụng chế độ kế toán và kiểm toán
theo doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …
Những “xung đột” pháp luật do định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
Theo quy định của Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật
đầu tư và Nghị định 88/2006/NĐ-CP hướng dẫn đăng ký kinh doanh theo Luật doanh
nghiệp thì trường hợp nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận đầu tư theo cách góp vốn,
mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam thì doanh nghiệp đó làm thủ tục đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Như vậy, theo quy định của
hai Nghị định hướng dẫn trên thì sau khi nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ
phần, các doanh nghiệp này vẫn là doanh nghiệp Việt Nam và hoạt động theo Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh do Phòng đăng
ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp mà không xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài như định nghĩa trong Luật đầu tư. Nghĩa là, quy định trong Nghị định
không “khớp” với theo Luật đầu tư. Vấn đề này được minh chứng tại Điều 31 của
Nghị định 88/2006 khẳng định công ty có phần vốn sở hữu nước ngoài chiếm trên
50% vẫn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà thủ tục đăng ký kinh doanh
không bị điều chỉnh bởi điều kiện đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài.Tuy
nhiên, khi doanh nghiệp này giảm vốn điều lệ phải
nộp báo cáo tài chính có xác nhận của kiểm toán độc lập (yêu cầu này giống như
áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).
Thế
nhưng, nếu nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận đầu tư theo cách khác với hình thức liên doanh với nhà đầu tư trong nước để thành lập
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty
hợp danh thì doanh nghiệp này lại là doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài hoặc theo hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh (nếu không thành lập pháp nhân) mà cả hai hình thức này
đều hoạt động theo Giấy chứng nhận đầu tư
đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do UBND cấp Tỉnh cấp mà không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn đầu tư
(tỷ lệ sở hữu từ 51% vốn Điều lệ trở lên
của nhà đầu tư nước ngoài chỉ ảnh hưởng đến điều kiện đầu tư- lĩnh vực đầu tư
có điều kiện- như nhà đầu tư trong nước). Ngoài ra, doanh nghiệp liên doanh này
nếu liên doanh tiếp với nhà đầu tư trong nước để hình thành thêm doanh nghiệp liên doanh mới thì liên
doanh mới cũng hoạt động theo Giấy chứng nhận đầu tư như trên. Với cách
tiếp cận này thì nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ theo Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện áp
dụng cho nhà đầu tư nước ngoài, vì đây là
dự án có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện theo hình thức liên doanh hoặc
hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Ngoài ra, việc hợp tác kinh doanh giữa các
nhà đầu tư trong nước với nhau theo hình thức đầu tư hợp đồng hợp tác kinh
doanh (hợp đồng BCC) đã được Luật đầu tư quy định tại Điều 23 thì nay Nghị định
108/2006/NĐ-CP không điều chỉnh hoạt động đầu tư này mà xem đây là hợp đồng
kinh tế và pháp luật có liên quan. Trước đây, việc hợp tác kinh doanh trong nước
với nhau được điều chỉnh theo Quyết định số 38/HĐBT ngày 10/4/1989 của Hội đồng
Bộ trưởng về liên kết kinh tế trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ.
Đến đây chúng ta nhận thấy theo quy định của hai Nghị định
mới ban hành trên đây thì nhà đầu tư nước ngoài có hai cách tiếp cận đều là đầu tư trực tiếp nhưng
địa vị pháp lý của doanh nghiệp,
của dự án đầu tư khác nhau và do hai cơ
quan cấp giấy chứng nhận khác nhau. Như vậy, về nguyên lý thì cách tiếp cận nào thuận tiện cho nhà đầu tư sẽ là cách có ưu thế sử dụng nhiều nhất. Để có thể phân biệt được cách tiếp cận đầu tư trên
chúng ta cần nhận dạng thông qua thủ tục có lập hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hay không. Vì chỉ
khi áp dụng hợp đồng liên doanh, hợp đồng
hợp tác kinh doanh thì mới coi là dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
Qua phân tích trên,
việc hợp nhất pháp luật trước hết phải hợp nhất được khái niệm. Hy vọng Bộ Kế
hoạch và Đầu tư sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết khắc phục được tình
trạng bất hợp lý và bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau, giữa
nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư trong nước
với nhau để hoạt động đầu tư thật sự bình đẳng và minh bạch trong cùng một sân
chơi đã thống nhất./.
Luật
gia-Kiểm toán viên Phạm Thế Vinh - GĐ
Cty Tư vấn Luật & Kiểm Toán Hoàng Gia-SCCT
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------